Sau đây là tài liệu do tác giả Trương Sỹ Hùng cung cấp và là Lời giới thiệu của cuốn "Sự tích đức thánh Giá" của tác giả Yên Sơn-Nguyễn Bá Hân Nxb. KHXH, Hà Nội, 2009.
LỜI GIỚI THIỆU
TRONG CUỐN SỰ TÍCH ĐỨC THÁNH GIÁ
PGS. TS. Trương Sỹ Hùng
Vào dịp Hội văn nghệ dân gian Hà Nội tổ chức họp mặt, tổng kết năm 2008 và mừng xuân Kỷ Sửu 2009, chúng tôi được tiếp xúc với ông Nguyễn Bá Hân, một tác giả gần như đã trở thành chuyên gia nghiên cứu, sưu tầm tài liệu văn hóa truyền thống ở một địa danh vốn đã nổi tiếng trong lịch sử. Nổi tiếng bởi Yên Sở quê ông chính là nơi người anh hùng dân tộc Phạm Tu-Lý Phục Man đã sinh ra và khôn lớn trưởng thành; người có công lớn nhất giúp vua Lý Nam Đế đánh đuổi giặc ngoại xâm, chinh Nam chiến Bắc, giành độc lập tự do cho non sông Nam Việt ở những năm cuối thế kỷ V đầu thế kỷ VI.
Xuất phát từ niềm tự hào chính đáng đó, nhà Hán học Nguyễn Bá Hân đã dầy công nghiên cứu nhiều nguồn tư liệu khác nhau; từ thư tịch Hán Nôm đến các truyền thuyết, dã sử... vật lộn với cuộc sống ngặt nghèo mà vươn tới nắm bắt từng mảng tư liệu. Gần ba mươi năm đằng đẵng theo đuổi một đề tài, chỉ với chiếc xe đạp cà tàng ông đã lặn lội đến hầu hết các địa danh quanh vùng; hễ nghe ai nói đến bất cứ nơi nào có truyền khẩu hoặc tài liệu về Phạm Tu-Lý Phục Man là ông tìm mọi cách bố trí thời gian đến tận nơi khảo sát thực tế. Với vốn liếng chữ Hán tự học, Nguyễn Bá Hân đã tìm được khá nhiều văn bản Hán Nôm rồi ông viết lại nguyên tự, phiên âm, dịch nghĩa rồi cho in song ngữ những tài liệu xung quanh nhân vật lịch sử Phạm Tu-Lý Phục Man. Thực hiện chủ trương vừa học vừa làm, ông đi nhiều, tiếp xúc rộng, trong khi vẫn hằng xuyên tích lũy tư liệu về Phạm Tu-Lý Phục Man; ông bình tĩnh tự tin và đã đạt khá nhiều thành tựu vững chắc.
Trên thực tế, chúng tôi mới kiến diện Nguyễn Bá Hân lần đầu, song tính danh ông chúng tôi đã biết đến ngay từ khi cuốn sách Văn bia quán Giá của ông được in ở nhà xuất bản Thế giới năm 1995. Dĩ nhiên, Nguyễn Bá Hân không phải là người đầu tiên khai thác nguồn tài liệu văn bia hiện còn được bảo tồn nguyên vẹn ở đền thờ Phạm Tu-Lý Phục Man tại xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; nhưng khi đọc sách của ông, kết hợp xem lại công trình Góp phần nghiên cứu một vị thành hoàng Việt Nam (1938) của Nguyễn Văn Huyên thì thấy ngay sự hoàn hảo hơn, công phu hơn, bởi Nguyễn Bá Hân đã khảo tả, chép lại theo nguyên bản, phiên âm, dịch nghĩa tất cả năm tấm bia đá, đã và đang được giữ gìn rất cẩn thận ở quê ông. Bảy mươi năm trước, Nguyễn Văn Huyên căn cứ vào bản dập của trường Viễn đông bác cổ và do một định hướng tiếp cận khác, nên ông mới chỉ đề cập đến ba tấm bia, trong đó một bia (ký hiệu 1.280) có bản dịch nội dung cơ bản, còn hai tấm khác (ký hiệu: 1.274 và 1.276) chỉ được trích dẫn tư liệu cho phù hợp với bài viết. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lịch sử, lễ hội... xung quanh nhân vật Phạm Tu-Lý Phục Man sau đó già nửa thế kỷ vẫn còn bị hạn chế, hạn chế đến mức có người đã viết bài nhìn nhận sai lạc. Chẳng hạn như nhiều người vẫn khẳng định Phạm Tu và Lý Phục Man là hai người trên một số bài báo hay một số bài phát biểu tại hội thảo về lịch sử và truyền thống địa phương Yên Sở năm 1982, và nhất là các bài viết cho hội thảo về danh tướng Phạm Tu ngày 8 tháng 9 năm 1998, khẳng định quê hương Phạm Tu ở Thanh Trì.
Trong khi đó, Nguyễn Bá Hân không sa vào tính bản vị địa phương để nhận lấy được, ông nhận thức vấn đề rất khách quan, tôn trọng sự thật lịch sử mà đúc rút chân lý. Loại hình văn khắc đá dường như vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” mà ở đây ông là người có công giới thiệu rộng hơn, tự thân sự việc đã nói lên công sức của Nguyễn Bá Hân đến nhường nào. Tuy thế, ở Lời nói đầu công trình sưu khảo Sự tích đức thánh Giá này ông vẫn khiêm nhường: “sưu tầm, khảo cứu thu thập những điều tai nghe mắt thấy ở trên 30 làng xã trong 7 huyện để viết nên những trang sách này, chúng tôi muốn giúp được phần nào cho những ai đang quan tâm tới sự nghiệp của một vị anh hùng dân tộc từ thời sơ sử đã sống cách ta gần 15 thế kỷ (537-545). Và điều mong muốn duy nhất của người viết là những tư liệu trong cuốn sách này sẽ góp phần giúp mọi người hiểu rõ hơn những công lao sự nghiệp vô cùng to lớn của Người đã mang lại hạnh phúc cho dân cho nước ta”. Một trang lịch sử hào hùng của dân tộc đã có độ lùi khá xa của thời gian, có được tư liệu xác thực như thế thật là đáng trân trọng.
Những vấn đề tư liệu về Phạm Tu-Lý Phục Man kể từ Văn bia quán Giá đến Kẻ Giá tên đất tên người (2005), Văn thơ quán Giá (2006), Sự tích đức thánh Giá (2009) của Nguyễn Bá Hân đã góp phần cơ bản, khẳng định được tính danh, nguyên quán, công trạng của nhân vật và sự kiện bằng lịch sử tư liệu thực địa, bằng văn tự. Kẻ Giá tên đất tên người và Văn thơ quán Giá thâu tóm toàn bộ thơ vịnh, văn khắc, giấy in, truyền thuyết ở Yên Sở và các vùng lân cận xung quanh Phạm Tu-Lý Phục Man. Cuốn trước tác giả phục dựng lại toàn bộ diện mạo nếp sống, phong tục, sự hình thành; thay đổi địa danh của quê hương người anh hùng dân tộc; cuốn sau là sưu tập sáng tác văn chương, lòng sớ, văn khấn... ca ngợi sự nghiệp vẻ vang của tướng quân Đỗ Động-Phạm Tu-Lý Phục Man là ba danh xưng của một con người; tích tụ tinh hoa khí phách một dân tộc yêu nước nổi tiếng từ thế kỷ VI. Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin hòa nhập với khoảng cách khá xa của lịch sử, nếu việc nghiên cứu về Phạm Tu-Lý Phục Man còn được tiếp tục thì mảng tư liệu do Nguyễn Bá Hân gom được ở huyện Hoài Đức chắc khó có ai vượt trội hơn. Riêng chúng tôi chỉ mong ông khỏe mạnh minh mẫn để có thể “bổ sung” bằng cách khảo lại hơn chục bản thần tích về Phạm Tu-Lý Phục Man hiện có ở viện Hán-Nôm cũng như mấy bản khác mà ông đã đọc, đã nói đến trong ba cuốn sách nêu trên. Khảo nhiều dị bản lưu hành ở nhiều nơi, do nhiều thế hệ viết lại, biết đâu chẳng có những phát hiện mới như chuyện ông tìm ra sự kiện Á Nương chẳng hạn?
Nguyễn Bá Hân đã thể hiện tình yêu quê hương bằng hành động cụ thể trong sự nghiệp văn hóa giáo dục; có thành tựu xuất sắc trong sưu tầm khảo cứu lịch sử văn hóa Việt Nam tụ lại ở điểm kẻ Giá. Từ cái nhìn khách quan, cuốn Nhị thập tứ hiếu (1998) do ông phiên âm cũng có một vài ghi nhận mới, so với bản in của nhà xuất bản Á châu (1943) do Hoàng Trung Chính thuật và chú thích. Hình như ý tứ Nguyễn Bá Hân muốn nêu lại những tấm gương trung hiếu, hướng tới mục đích khuyên răn con cháu hãy rèn luyện ý chí làm người, giữ đạo làm con kính trọng cha mẹ, thương yêu anh em đồng bào ngay từ trong phạm vi gia đình làm cơ sở trước khi mỗi người đều phải đóng góp công sức nhỏ bé của mình mà gánh vác việc nước.
Tư liệu về Danh nhân Phạm Tu (476-545) kiến trúc sư của nhà nước VẠN XUÂN độc lập
9.4.11
VIỆC ĐỒNG NHẤT TRONG CUỐN SÁCH Thăng Long-Hà Nội những trang sử vẻ vang chống ngoại xâm”
PGS. TS. Lê Đình Sỹ nguyên Phó viện trưởng Viện lịch sử quân sự Việt Nam vừa chủ biên một cuốn sách đáng quan tâm “Thăng Long-Hà Nội những trang sử vẻ vang chống ngoại xâm” được Nxb. Hà Nội cho in nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long. Trang 48, 49 cuốn có viết về lão tướng Phạm Tu như sau:
Theo thần tích, trong cuộc kháng chiến chống quân Lương ở bên sông Tô Lịch, lão tướng Phạm Tu (có tài liệu cho là Lý Phục Man) tướng trụ cột của Lý Nam Đế, người đứng đầu hàng võ quan triều đình Vạn Xuân đã chiến đấu rất anh dũng và đã hy sinh vào ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (8-545). Phạm Tu, người làng Cổ Sở đã tham gia khởi nghĩa khởi nghĩa từ những ngày đầu và có công lớn trong sự giải phóng trước đây. Ông từng được phái vào phía nam đánh tan quân Lâm Ấp ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), rồi trấn giữ vùng Đường Lâm (Ba Vì, Hà Nội). Khi nhà Lương phái quân đánh Vạn Xuân, Phạm Tu chỉ huy quân đội chiến đấu và hy sinh anh dũng. Thi hài của ông được đưa về bến Hồ Mã, an táng tại quê hương. Khu mả Thánh cây cối mọc um tùm như rừng nên được gọi là Rừng Giá hay Rừng Cấm nơi nổi tiếng là rất thiêng: “Rừng Giá cái lá cũng thiêng”. Nhân dân thương nhớ lập miếu thờ và suy tôn làm thành hoàng của làng. Năm 1016, vua Lý Thái Tổ qua bến Cổ Sở, đã sai lập đền thờ và đắp tượng Phạm Tu, từ đó các triều vua đều có sắc phong và hàng năm vào ngày 10 tháng ba, tương truyền là ngày sinh của Thánh Giá, nhân dân lại mở Hội Giá nhằm tưởng niệm và nêu cao công lao, sự nghiệp của người anh hùng Phạm Tu.
Ở đây chúng ta gặp lại việc mà PGS. TS. Trương Sỹ Hùng đã nêu ở trang 27 bởi nhiều tác giả đã sử dụng thông tin trong Sự tích về thần Lý Phục Man, đó cũng là sáng tác văn học, một dạng dã sử:
“Sáng tác văn học như diễn ca lịch sử xưa nay cũng như tiểu thuyết lịch sử đương đại cho phép tác giả được hư cấu hình tượng, sao cho điển hình nhân vật nổi bật, nhưng không được bịa ra sự kiện, không được “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”, gây nhận thức rối loạn cho người đọc.”
Theo thần tích, trong cuộc kháng chiến chống quân Lương ở bên sông Tô Lịch, lão tướng Phạm Tu (có tài liệu cho là Lý Phục Man) tướng trụ cột của Lý Nam Đế, người đứng đầu hàng võ quan triều đình Vạn Xuân đã chiến đấu rất anh dũng và đã hy sinh vào ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (8-545). Phạm Tu, người làng Cổ Sở đã tham gia khởi nghĩa khởi nghĩa từ những ngày đầu và có công lớn trong sự giải phóng trước đây. Ông từng được phái vào phía nam đánh tan quân Lâm Ấp ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), rồi trấn giữ vùng Đường Lâm (Ba Vì, Hà Nội). Khi nhà Lương phái quân đánh Vạn Xuân, Phạm Tu chỉ huy quân đội chiến đấu và hy sinh anh dũng. Thi hài của ông được đưa về bến Hồ Mã, an táng tại quê hương. Khu mả Thánh cây cối mọc um tùm như rừng nên được gọi là Rừng Giá hay Rừng Cấm nơi nổi tiếng là rất thiêng: “Rừng Giá cái lá cũng thiêng”. Nhân dân thương nhớ lập miếu thờ và suy tôn làm thành hoàng của làng. Năm 1016, vua Lý Thái Tổ qua bến Cổ Sở, đã sai lập đền thờ và đắp tượng Phạm Tu, từ đó các triều vua đều có sắc phong và hàng năm vào ngày 10 tháng ba, tương truyền là ngày sinh của Thánh Giá, nhân dân lại mở Hội Giá nhằm tưởng niệm và nêu cao công lao, sự nghiệp của người anh hùng Phạm Tu.
Ở đây chúng ta gặp lại việc mà PGS. TS. Trương Sỹ Hùng đã nêu ở trang 27 bởi nhiều tác giả đã sử dụng thông tin trong Sự tích về thần Lý Phục Man, đó cũng là sáng tác văn học, một dạng dã sử:
“Sáng tác văn học như diễn ca lịch sử xưa nay cũng như tiểu thuyết lịch sử đương đại cho phép tác giả được hư cấu hình tượng, sao cho điển hình nhân vật nổi bật, nhưng không được bịa ra sự kiện, không được “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”, gây nhận thức rối loạn cho người đọc.”
KHẢO SÁT THÊM VỀ MIẾU VÀ ĐÌNH THỜ LONG BIÊN HẦU PHẠM TU Ở THANH LIỆT, THANH TRÌ, HÀ NỘI
TRẦN LÊ SÁNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Ngày 20 tháng 7 năm Đinh Sửu, tức ngày 22 tháng 8 năm 1997 là ngày giỗ lần thứ 1452 năm của vị danh tướng Long Biên hầu Phạm Tu đời vua Lý Nam Đế.
Cụ Phạm Tu người thôn Vực Mụ, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thân phụ là cụ Phạm Thiều, thân mẫu là cụ Lý Thị Trạch.
Cụ Phạm Tu sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn hóa:
Thư thảo tinh điền, thánh đức uông hàm gia thế đại;
Bút hoa bảo cáo, thần uy hiển ứng quốc từ tôn.
Dịch:
Sách thảo nghĩa sâu, thánh đức bao dung gia thế lớn;
Bút hoa lời báu, thần uy hiển ứng quốc từ tôn.
(Câu đối và bản dịch ở Miếu Vực)
Thần tích chép rằng, ngày 9 tháng Giêng năm Ất Mão (475), bà Lý nằm mộng thấy thần Tây Hồ thay trời xuống ban cho quý tử. Ngày rằm bà lại thấy ánh sáng đầy nhà, có con bạch hoa xà (điềm báo có võ tài hướng Tây xuất hiện) hóa thành đóa sen trắng (điềm báo văn tài hướng Tây xuất hiện) lượn đến, bà Lý đỡ lấy và có thai.
Ngày 12 tháng 3 năm Bính Thìn (476), bà Lý sinh con trai; lúc sinh, mùi hương thơm tỏa đầy nhà. Ông bà đặt tên cho con là Phạm Đô Tu. Cậu Tu phương phi, tuấn tú, học giỏi, đàn hát hay và là đô vật nổi tiếng trong vùng. Đến nay, lò vật Quỳnh Đô vẫn là lò vật nổi tiếng.
Cuối năm Tân Dậu, tức vào tháng 1 năm 542, Giám quân ở châu Cửu Đức (vùng Hà Tĩnh ngày nay) dấy binh khởi nghĩa, chống lại ách đô hộ nhà Lương.
Viên Thứ sử cai trị nước ta lúc bấy giờ là Tiêu Tư. Tiêu “vì hà khắc tàn bạo mà mất lòng người” (Đại Việt sử ký toàn thư). Trong đêm dài Bắc thuộc, cuộc khởi nghĩa của Giám quân Lý Bôn giống như bó đuốc rực sáng soi đường, nhân dân và anh hào khắp nơi đều hướng về, nô nức hưởng ứng. Ở Chu Diên (Đan Phượng, Từ Liêm) có Hào trưởng Triệu Túc (thân phụ vua Triệu Việt Vương sau này); ở Sấu Giá (Yên Sở, Hoài Đức) có Lý Phục Man, lại có người là quan nhà Lương bỏ quan chức chạy về với quân khởi nghĩa như Tinh Thiều..., đều là những bậc anh hùng xuất chúng, kéo quân về giúp. Trong số những vị anh hùng xuất chúng ấy, chúng ta còn phải kể đến vị lão anh hùng Phạm Tu.
Tướng quân Phạm Tu lúc bấy giờ đã 67 tuổi, song tuổi tác không ngăn được nhiệt tình và tài năng xuất chúng của ông. Triệu Túc, Tinh Thiều, Phạm Tu trở thành ba vị lãnh tụ Lý Bôn lãnh đạo. Quân ta đánh đâu thắng đấy. Thứ sử Tiêu Tư phải bỏ chạy về nước. Đất nước ta được giải phóng.
Tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua Lý Nam Đế lên ngôi; đặt tên nước là Vạn Xuân lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt quan chế, v. v… Sau mấy trăm năm phải làm nô lệ, những năm thời vua Lý Nam Đế, nhân dân ta được tự do, đất nước được độc lập… Tiếc thay! Thời gian chỉ ngắn ngủi có bốn năm! Song ý nghĩa lại hết sức to lớn. Ý nghĩa to lớn này thật khó nêu hết được!...
Tư liệu về hành trạng của Tướng quân Phạm Tu, hiện nay tìm được còn rất ít, tuy vậy, những tư liệu đầy giá trị này vẫn cho phép chúng ta khẳng định công lao to lớn của vị Tướng quân họ Phạm đối với đất nước.
Những tư liệu về Tướng quân Phạm Tu, có thể chia làm hai nguồn chính: Nguồn thư tịch, giấy tờ có tính chất quốc gia và nguồn ghi chép, di tích có tính chất truyền thống, địa phương.
Về nguồn thư tịch, giấy tờ có tính chất quốc gia, trước hết phải kể đến quốc sử, đến sắc phong:
Tìm vào quốc sử, chúng ta đọc được ở Kỷ nhà Tiền Lý, sách Đại Việt sử kí toàn thư những đoạn như sau:
“Quý Hợi, năm thứ 3 (543), mùa hạ, tháng Tư, vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua (Lý Nam Đế) sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở quận Cửu Đức.
“Giáp Tý, Thiên Đức năm thứ 1 (544), Mùa xuân, tháng Giêng, vua nhân đánh được giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đổi niên hiệu, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc là Thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu, đều là tướng văn và tướng võ”.
Việt Nam sử lược cũng viết:
“Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang quấy phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước”.
“Năm Giáp Tý (544) đời nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn tự xưng là Nam Việt Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, niên hiệu là Thiên Đức rồi phong cho Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ”.
Thiên Nam ngữ lục (thế kỉ XVIII) chép:
Vua cùng tướng quân Phạm Tu,
Vào Khuất Liêu động thác hư lên trời.
Các sử học xưa của nước ta, khi viết quốc sử thường xem kĩ sử Trung Quốc, viết về sử đời Tiền Lý, chắc chắn có tham khảo sử nhà Lương đời Lục triều. Trong đình Ngoài làng Thanh Liệt thờ Tướng quân Phạm Tu làm Thành hoàng, còn đôi câu đối:
Tướng sử Lục triều Lương địch quốc;
Thần bi nhất Phạm Liệt danh hương.
Dịch:
Chống quân Lương thời Lục triều, dũng tướng lừng danh sử chép;
Dòng họ Phạm đất Thanh Liệt, thần võ còn dấu bia truyền.
(Bản dịch của Chí Kiên; bài “Phạm Tu” trong Danh nhân Hà Nội; 1973).
Như vậy, danh tướng Phạm Tu có thể đã được chép trong sử nhà Lương thời Lục triều.
Ngày 18 tháng 7 vừa qua, chúng tôi đã cùng các ông Nguyễn Hữu Tưởng, Vũ Hồng Quân, Nguyễn Xuân Đa là những nhà Hán học và cán bộ địa phương đi thăm lại miếu, đình thờ danh tướng Phạm Tu. Hiện nay, bảo tàng Thanh Liệt còn giữ được 18 đạo sắc phong của các triều về Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương. Gồm:
- Đời Lê Cảnh Hưng 4 đạo.
- Đời Lê Chiêu Thống 1 đạo.
- Đời Tây Sơn, Cảnh Thịnh 2 đạo.
- Đời Nguyễn 11 đạo.
Những tư liệu quốc sử, giấy tờ có tính chất quốc gia nói trên đã giúp cho chúng ta rất nhiều trong việc tìm hiểu về danh tướng Phạm Tu. Ngoài ra, chúng ta được bổ trợ qua nguồn ghi chép, di tích ở địa phương.
Ở Thanh Liệt hiện nay có hai nơi thờ danh tướng Phạm Tu đó là Miếu Vực và Đình Ngoài. Miếu Vực ở xóm Vực. Miếu thờ Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương cùng Thánh phụ Phạm Thiều, Thánh mẫu Lý Thị Trạch.
Bài vị ghi:
“Bản thổ Tối linh Lý triều Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại Vương”
Trước miếu có đôi câu đối:
Văn tại tư hồ, kinh vĩ lưỡng gian thùy bất hủ;
Đức kỳ thịnh hĩ, hiển vi nhất lý hưởng vu thành.
Dịch:
Văn để dài lâu, ngang dọc hai gian truyền bất hủ;
Đức còn thịnh mãi, tỏ mờ một lẽ lễ chân thành.
(Theo bản dịch trong miếu)
Theo câu đối trên, miếu vốn có hai gian, nay được mở rộng thành ba gian. Danh tướng Phạm Tu sau khi mất, về năm mất, mộ táng, nơi thờ, thực ra còn đôi chỗ vẫn phải tiếp tục tìm hiểu thêm; song quê ông phải là Thanh Liệt, phát hiện đó cần ghi nhận. Nhưng Miếu Vực là nơi thờ Thánh phụ, Thánh mẫu còn đối với đức Thánh Phạm, miếu này chỉ là nơi thờ vọng.
Đình Ngoài ở ngoài đồng, thuộc thôn Trung. Đình có vườn rộng, phía trước đình có hồ lớn, gọi là hồ Tròn. Nghe nói xưa hồ có cánh như hoa sen, điều đó hình như hợp với mộng Thánh mẫu lúc có mang đức Thánh. Bên phải đình có nhà thọ lão, điều đó lại hình như hợp với kiểu dựng điện Vạn Thọ ở triều vua Lý Nam Đế. Trong đình có đôi câu đối gỗ đã có chỗ bong sơn, để trong góc:
Miếu thành khổng yên, chung thủy tam thiên quy thắng địa;
Dân kim thụ tứ, cổn hoa ngũ tự biểu danh hương.
(Miếu thành được yên, sau trước ba lần dời mới về đất đẹp.
Dân nay nhận sắc, huy hoàng năm chữ vua ban tỏ danh làng).
Vậy, hình như đình đã dựng ba lần, lần cuối mới là chỗ hiện nay chăng?
Đình có bốn tấm biển lớn:
Cổ hữu quang (Xưa đã sáng)
Hưu hữu liệt quang (Mất vẫn rực sáng)
Ngọc Đàm Thanh (Ngọc Đàm Thanh)
Vạn cổ linh trường (Muôn thuở anh linh)
Trong đình còn một số đôi câu đối khác như:
Trượng nghĩa cự Lương binh, hách hách tinh trung huyền nhật nguyệt;
Phong hầu minh Lý sử, miên miên thang mộc ấm phần du.
Dịch:
Khởi nghĩa dẹp quân Lương, lẫm liệt tinh trung ngời nhật nguyệt;
Phong hầu ghi sư Lý, vẻ vang thang mộc rạng quê hương.
(Bản dịch của Chí Kiên; bài và sách đã dẫn)
v.. v..
Ngoài ra, đình Ngoài còn Thần tích chép sự tích của Thành hoàng Phạm Đô Hồ Đại vương. Theo Thần tích, tháng 6 năm Ất Sửu (545), tướng Lương là Trần Bá Tiên đánh Chu Diên, Tướng quân Phạm Đô Hồ chống giặc và tử trận; đó là ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu. Sau khi mất, ông được vua Lý Nam Đế phong là Long Biên hầu, ban thụy là Đô Hồ, sắc phong làm Thành hoàng bản cảnh, ban cho bản trang là ấp thang mộc, được miễn sưu dịch; lại cho một trăm nén bạc để dựng miếu thờ. Từ đó, viết chữ Hán kỵ húy phần bên phải, phần bên trái chữ TU (Tu trong “Tu dưỡng”) .
Theo bà con địa phương cho biết, cho đến nay, người bản địa khi nói gặp chữ TU đều đọc chệch là TO.
Điều đáng lưu ý hơn nữa là trong đình Ngoài còn bức vẽ Thành hoàng Phạm Đô Hồ. Bức vẽ này cỡ khoảng 60 x 80cm; sắc thái Ngài trang nghiêm nhưng phúc hậu, bình dị. Thời gian vẽ được chưa rõ “Bảo Đại thất niên tuế thứ Nhâm Thân bát nguyệt sơ bát nhật”, tức bức vẽ này được vẽ vào ngày 8 tháng 8 năm Nhâm Thân niên hiệu Bảo Đại (1932). Bên phải bức vẽ này có bức vẽ một tướng võ ở võ ban; bên trái có bức vẽ tướng văn ở văn ban. Phía trước có bức tứ bình bốn cô gái đang đánh đàn, thổi sáo. Các bức vẽ trên gợi lên ý nghĩ, Tướng quân Phạm Tu tuy là võ tướng, song lại có phong cách văn nhã, dễ gần.
Tướng quân Phạm Tu có đóng góp lớn cho đất nước, cho Hà Nội như vậy được sử sách đánh giá cao và nhân dân quý mến như vậy thế mà, cho đến nay, chưa một đường, một phố nào ở Hà Nội gắn biển mang tên vị danh nhân này. Vậy thì, việc này nên là việc sớm được lưu ý thỏa đáng chăng? Ngoài ra, khi con đường lớn chạy qua Thanh Liệt được làm, cả một sân trước rộng của đền thờ cụ Chu Văn An bị bới làm đường; nếu nay đường này muốn mở rộng nữa, đền thờ cụ Chu và cả miếu thờ cụ Phạm Tu chỉ cần “tiện” một chút, “lợi” một chút là có thể bị tổn hại nhiều. Văn hóa bao hàm một nghĩa rất rộng, trong đó kể cả việc làm đường, xây dựng…; nhưng có lẽ đừng bao giờ nên coi việc dời bỏ, hủy bỏ di tích lịch sử là việc làm có văn hóa.
Theo Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr. 524-532)
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Ngày 20 tháng 7 năm Đinh Sửu, tức ngày 22 tháng 8 năm 1997 là ngày giỗ lần thứ 1452 năm của vị danh tướng Long Biên hầu Phạm Tu đời vua Lý Nam Đế.
Cụ Phạm Tu người thôn Vực Mụ, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thân phụ là cụ Phạm Thiều, thân mẫu là cụ Lý Thị Trạch.
Cụ Phạm Tu sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn hóa:
Thư thảo tinh điền, thánh đức uông hàm gia thế đại;
Bút hoa bảo cáo, thần uy hiển ứng quốc từ tôn.
Dịch:
Sách thảo nghĩa sâu, thánh đức bao dung gia thế lớn;
Bút hoa lời báu, thần uy hiển ứng quốc từ tôn.
(Câu đối và bản dịch ở Miếu Vực)
Thần tích chép rằng, ngày 9 tháng Giêng năm Ất Mão (475), bà Lý nằm mộng thấy thần Tây Hồ thay trời xuống ban cho quý tử. Ngày rằm bà lại thấy ánh sáng đầy nhà, có con bạch hoa xà (điềm báo có võ tài hướng Tây xuất hiện) hóa thành đóa sen trắng (điềm báo văn tài hướng Tây xuất hiện) lượn đến, bà Lý đỡ lấy và có thai.
Ngày 12 tháng 3 năm Bính Thìn (476), bà Lý sinh con trai; lúc sinh, mùi hương thơm tỏa đầy nhà. Ông bà đặt tên cho con là Phạm Đô Tu. Cậu Tu phương phi, tuấn tú, học giỏi, đàn hát hay và là đô vật nổi tiếng trong vùng. Đến nay, lò vật Quỳnh Đô vẫn là lò vật nổi tiếng.
Cuối năm Tân Dậu, tức vào tháng 1 năm 542, Giám quân ở châu Cửu Đức (vùng Hà Tĩnh ngày nay) dấy binh khởi nghĩa, chống lại ách đô hộ nhà Lương.
Viên Thứ sử cai trị nước ta lúc bấy giờ là Tiêu Tư. Tiêu “vì hà khắc tàn bạo mà mất lòng người” (Đại Việt sử ký toàn thư). Trong đêm dài Bắc thuộc, cuộc khởi nghĩa của Giám quân Lý Bôn giống như bó đuốc rực sáng soi đường, nhân dân và anh hào khắp nơi đều hướng về, nô nức hưởng ứng. Ở Chu Diên (Đan Phượng, Từ Liêm) có Hào trưởng Triệu Túc (thân phụ vua Triệu Việt Vương sau này); ở Sấu Giá (Yên Sở, Hoài Đức) có Lý Phục Man, lại có người là quan nhà Lương bỏ quan chức chạy về với quân khởi nghĩa như Tinh Thiều..., đều là những bậc anh hùng xuất chúng, kéo quân về giúp. Trong số những vị anh hùng xuất chúng ấy, chúng ta còn phải kể đến vị lão anh hùng Phạm Tu.
Tướng quân Phạm Tu lúc bấy giờ đã 67 tuổi, song tuổi tác không ngăn được nhiệt tình và tài năng xuất chúng của ông. Triệu Túc, Tinh Thiều, Phạm Tu trở thành ba vị lãnh tụ Lý Bôn lãnh đạo. Quân ta đánh đâu thắng đấy. Thứ sử Tiêu Tư phải bỏ chạy về nước. Đất nước ta được giải phóng.
Tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua Lý Nam Đế lên ngôi; đặt tên nước là Vạn Xuân lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt quan chế, v. v… Sau mấy trăm năm phải làm nô lệ, những năm thời vua Lý Nam Đế, nhân dân ta được tự do, đất nước được độc lập… Tiếc thay! Thời gian chỉ ngắn ngủi có bốn năm! Song ý nghĩa lại hết sức to lớn. Ý nghĩa to lớn này thật khó nêu hết được!...
Tư liệu về hành trạng của Tướng quân Phạm Tu, hiện nay tìm được còn rất ít, tuy vậy, những tư liệu đầy giá trị này vẫn cho phép chúng ta khẳng định công lao to lớn của vị Tướng quân họ Phạm đối với đất nước.
Những tư liệu về Tướng quân Phạm Tu, có thể chia làm hai nguồn chính: Nguồn thư tịch, giấy tờ có tính chất quốc gia và nguồn ghi chép, di tích có tính chất truyền thống, địa phương.
Về nguồn thư tịch, giấy tờ có tính chất quốc gia, trước hết phải kể đến quốc sử, đến sắc phong:
Tìm vào quốc sử, chúng ta đọc được ở Kỷ nhà Tiền Lý, sách Đại Việt sử kí toàn thư những đoạn như sau:
“Quý Hợi, năm thứ 3 (543), mùa hạ, tháng Tư, vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua (Lý Nam Đế) sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở quận Cửu Đức.
“Giáp Tý, Thiên Đức năm thứ 1 (544), Mùa xuân, tháng Giêng, vua nhân đánh được giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đổi niên hiệu, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc là Thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu, đều là tướng văn và tướng võ”.
Việt Nam sử lược cũng viết:
“Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang quấy phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước”.
“Năm Giáp Tý (544) đời nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn tự xưng là Nam Việt Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, niên hiệu là Thiên Đức rồi phong cho Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ”.
Thiên Nam ngữ lục (thế kỉ XVIII) chép:
Vua cùng tướng quân Phạm Tu,
Vào Khuất Liêu động thác hư lên trời.
Các sử học xưa của nước ta, khi viết quốc sử thường xem kĩ sử Trung Quốc, viết về sử đời Tiền Lý, chắc chắn có tham khảo sử nhà Lương đời Lục triều. Trong đình Ngoài làng Thanh Liệt thờ Tướng quân Phạm Tu làm Thành hoàng, còn đôi câu đối:
Tướng sử Lục triều Lương địch quốc;
Thần bi nhất Phạm Liệt danh hương.
Dịch:
Chống quân Lương thời Lục triều, dũng tướng lừng danh sử chép;
Dòng họ Phạm đất Thanh Liệt, thần võ còn dấu bia truyền.
(Bản dịch của Chí Kiên; bài “Phạm Tu” trong Danh nhân Hà Nội; 1973).
Như vậy, danh tướng Phạm Tu có thể đã được chép trong sử nhà Lương thời Lục triều.
Ngày 18 tháng 7 vừa qua, chúng tôi đã cùng các ông Nguyễn Hữu Tưởng, Vũ Hồng Quân, Nguyễn Xuân Đa là những nhà Hán học và cán bộ địa phương đi thăm lại miếu, đình thờ danh tướng Phạm Tu. Hiện nay, bảo tàng Thanh Liệt còn giữ được 18 đạo sắc phong của các triều về Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương. Gồm:
- Đời Lê Cảnh Hưng 4 đạo.
- Đời Lê Chiêu Thống 1 đạo.
- Đời Tây Sơn, Cảnh Thịnh 2 đạo.
- Đời Nguyễn 11 đạo.
Những tư liệu quốc sử, giấy tờ có tính chất quốc gia nói trên đã giúp cho chúng ta rất nhiều trong việc tìm hiểu về danh tướng Phạm Tu. Ngoài ra, chúng ta được bổ trợ qua nguồn ghi chép, di tích ở địa phương.
Ở Thanh Liệt hiện nay có hai nơi thờ danh tướng Phạm Tu đó là Miếu Vực và Đình Ngoài. Miếu Vực ở xóm Vực. Miếu thờ Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương cùng Thánh phụ Phạm Thiều, Thánh mẫu Lý Thị Trạch.
Bài vị ghi:
“Bản thổ Tối linh Lý triều Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại Vương”
Trước miếu có đôi câu đối:
Văn tại tư hồ, kinh vĩ lưỡng gian thùy bất hủ;
Đức kỳ thịnh hĩ, hiển vi nhất lý hưởng vu thành.
Dịch:
Văn để dài lâu, ngang dọc hai gian truyền bất hủ;
Đức còn thịnh mãi, tỏ mờ một lẽ lễ chân thành.
(Theo bản dịch trong miếu)
Theo câu đối trên, miếu vốn có hai gian, nay được mở rộng thành ba gian. Danh tướng Phạm Tu sau khi mất, về năm mất, mộ táng, nơi thờ, thực ra còn đôi chỗ vẫn phải tiếp tục tìm hiểu thêm; song quê ông phải là Thanh Liệt, phát hiện đó cần ghi nhận. Nhưng Miếu Vực là nơi thờ Thánh phụ, Thánh mẫu còn đối với đức Thánh Phạm, miếu này chỉ là nơi thờ vọng.
Đình Ngoài ở ngoài đồng, thuộc thôn Trung. Đình có vườn rộng, phía trước đình có hồ lớn, gọi là hồ Tròn. Nghe nói xưa hồ có cánh như hoa sen, điều đó hình như hợp với mộng Thánh mẫu lúc có mang đức Thánh. Bên phải đình có nhà thọ lão, điều đó lại hình như hợp với kiểu dựng điện Vạn Thọ ở triều vua Lý Nam Đế. Trong đình có đôi câu đối gỗ đã có chỗ bong sơn, để trong góc:
Miếu thành khổng yên, chung thủy tam thiên quy thắng địa;
Dân kim thụ tứ, cổn hoa ngũ tự biểu danh hương.
(Miếu thành được yên, sau trước ba lần dời mới về đất đẹp.
Dân nay nhận sắc, huy hoàng năm chữ vua ban tỏ danh làng).
Vậy, hình như đình đã dựng ba lần, lần cuối mới là chỗ hiện nay chăng?
Đình có bốn tấm biển lớn:
Cổ hữu quang (Xưa đã sáng)
Hưu hữu liệt quang (Mất vẫn rực sáng)
Ngọc Đàm Thanh (Ngọc Đàm Thanh)
Vạn cổ linh trường (Muôn thuở anh linh)
Trong đình còn một số đôi câu đối khác như:
Trượng nghĩa cự Lương binh, hách hách tinh trung huyền nhật nguyệt;
Phong hầu minh Lý sử, miên miên thang mộc ấm phần du.
Dịch:
Khởi nghĩa dẹp quân Lương, lẫm liệt tinh trung ngời nhật nguyệt;
Phong hầu ghi sư Lý, vẻ vang thang mộc rạng quê hương.
(Bản dịch của Chí Kiên; bài và sách đã dẫn)
v.. v..
Ngoài ra, đình Ngoài còn Thần tích chép sự tích của Thành hoàng Phạm Đô Hồ Đại vương. Theo Thần tích, tháng 6 năm Ất Sửu (545), tướng Lương là Trần Bá Tiên đánh Chu Diên, Tướng quân Phạm Đô Hồ chống giặc và tử trận; đó là ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu. Sau khi mất, ông được vua Lý Nam Đế phong là Long Biên hầu, ban thụy là Đô Hồ, sắc phong làm Thành hoàng bản cảnh, ban cho bản trang là ấp thang mộc, được miễn sưu dịch; lại cho một trăm nén bạc để dựng miếu thờ. Từ đó, viết chữ Hán kỵ húy phần bên phải, phần bên trái chữ TU (Tu trong “Tu dưỡng”) .
Theo bà con địa phương cho biết, cho đến nay, người bản địa khi nói gặp chữ TU đều đọc chệch là TO.
Điều đáng lưu ý hơn nữa là trong đình Ngoài còn bức vẽ Thành hoàng Phạm Đô Hồ. Bức vẽ này cỡ khoảng 60 x 80cm; sắc thái Ngài trang nghiêm nhưng phúc hậu, bình dị. Thời gian vẽ được chưa rõ “Bảo Đại thất niên tuế thứ Nhâm Thân bát nguyệt sơ bát nhật”, tức bức vẽ này được vẽ vào ngày 8 tháng 8 năm Nhâm Thân niên hiệu Bảo Đại (1932). Bên phải bức vẽ này có bức vẽ một tướng võ ở võ ban; bên trái có bức vẽ tướng văn ở văn ban. Phía trước có bức tứ bình bốn cô gái đang đánh đàn, thổi sáo. Các bức vẽ trên gợi lên ý nghĩ, Tướng quân Phạm Tu tuy là võ tướng, song lại có phong cách văn nhã, dễ gần.
Tướng quân Phạm Tu có đóng góp lớn cho đất nước, cho Hà Nội như vậy được sử sách đánh giá cao và nhân dân quý mến như vậy thế mà, cho đến nay, chưa một đường, một phố nào ở Hà Nội gắn biển mang tên vị danh nhân này. Vậy thì, việc này nên là việc sớm được lưu ý thỏa đáng chăng? Ngoài ra, khi con đường lớn chạy qua Thanh Liệt được làm, cả một sân trước rộng của đền thờ cụ Chu Văn An bị bới làm đường; nếu nay đường này muốn mở rộng nữa, đền thờ cụ Chu và cả miếu thờ cụ Phạm Tu chỉ cần “tiện” một chút, “lợi” một chút là có thể bị tổn hại nhiều. Văn hóa bao hàm một nghĩa rất rộng, trong đó kể cả việc làm đường, xây dựng…; nhưng có lẽ đừng bao giờ nên coi việc dời bỏ, hủy bỏ di tích lịch sử là việc làm có văn hóa.
Theo Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr. 524-532)
CÂU CA DAO VỀ PHẠM TU
231. Sông Tô nước chảy quanh co
Phạm Công hiển hóa, âm phò quốc vương.
Theo phần 4: Ca dao, trong cuốn Thăng Long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ Nxb. Hà Nội-2002 do Giang Quân sưu tầm, biên soạn. (In lần thứ hai có bổ sung, sửa chữa)
Với chú thích: 231-Phạm Công là Phạm Tu, võ tướng người thôn Văn, xã Thanh Liệt, h. Thanh Trì, giúp Lý Bí khởi nghĩa chống quân xâm lược Lương (TK 6) có đền thờ ở làng.
Nguồn tin: e-cadao.com
Phạm Công hiển hóa, âm phò quốc vương.
Theo phần 4: Ca dao, trong cuốn Thăng Long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ Nxb. Hà Nội-2002 do Giang Quân sưu tầm, biên soạn. (In lần thứ hai có bổ sung, sửa chữa)
Với chú thích: 231-Phạm Công là Phạm Tu, võ tướng người thôn Văn, xã Thanh Liệt, h. Thanh Trì, giúp Lý Bí khởi nghĩa chống quân xâm lược Lương (TK 6) có đền thờ ở làng.
Nguồn tin: e-cadao.com
PHẠM TU (476-545)
(Theo cuốn “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt” ấn hành nội tộc năm 2007 của Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam)
Phạm Tu sinh ngày 10 tháng 3 năm Bính Thìn (tức 19-4-476) tại trang Quang Liệt, nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Song thân của Người là Phạm Thiều và Lý Thị Trạch, vốn là những người đức độ có tiếng trong vùng.
Người là danh nhân họ Phạm xuất hiện sớm nhất trong chính sử: bộ sách “Đại Việt Sử ký Toàn thư” có hai chỗ viết về Người; bộ sách “Biên niên Lịch sử cổ trung đại” có ba lần nhắc đến tên Người…
Từ nhỏ, Người đã là một trang thiếu niên phương phi, tuấn tú; chăm đọc sách, học giỏi, đàn hát hay... Lớn lên lại năng luyện võ nghệ, là một đô vật nổi tiếng, thường được gọi là Đô Tu, rồi đã thật sự trở thành một hào kiệt có uy tín lớn trong vùng.
Sinh ra giữa thời “hơn một nghìn năm Bắc thuộc” (từ năm-179 đến năm +905) nên suốt cuộc đời, Người ẩn dật, nung nấu ý chí cứu nước; lấy biệt hiệu là Cảm Ứng cư sĩ, từng khuyên dân “cửu niên tam tích” -“cửu niên” với nghĩa là lâu dài, nhiều năm, tích trữ ba thứ: lương thực, quần áo, vũ khí … để luôn sẵn sàng, khi thời cơ đến thì vùng lên giành lại non sông.
Năm 541, đã bước sang tuổi 66, Phạm Tu vẫn tích cực hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (503-548) (còn gọi là Lý Bôn). Người đã chủ động tập hợp trai tráng trong vùng, lập thành một đội quân mạnh, đánh chiếm thành Long Biên (vùng Bắc Ninh ngày nay), thủ phủ của chính quyền đô hộ.
Khi dân Lâm Ấp ở phía Nam nước ta, lợi dụng tình thế, tràn sang nước ta cướp bóc, Lý Bí đã cử Người đem quân vào đánh dẹp. Mùa hè năm 543, Người đã đánh tan địch ngay ở Cửu Đức (vùng Hà Tĩnh ngày nay). Trong chiến cuộc này, dưới trướng của Phạm Tu, có cả tướng quân Phục Man, người làng Giá (Yên Sở, Đan Phượng)-sau được thờ làm Thành hoàng làng ở đấy.
Chiến thắng trở về, Người càng được khẳng định là vị tướng tài giỏi nhất trong nghĩa quân và cũng là người cao tuổi nhất. Còn vị tướng trẻ Phục Man được mang “quốc tính” (mang họ Lý-họ Nhà Vua) và trở thành Phò mã.
Năm 544, khi thành lập nước Vạn Xuân, một nhà nước có tổ chức đầu tiên ở nước ta, Người được Lý Nam Đế giao trọng trách làm Tả tướng, đứng đầu Ban Võ-tương đương Bộ trưởng Quốc phòng-Tổng Tư lệnh ngày nay.
Khi Nhà Lương (thuộc Nam triều thời Nam Bắc triều của Trung Quốc (420-589) đã huy động tổng lực của cả 5 châu xung quanh nước ta là: Việt-La-An-Ái-Định sang đàn áp Giao Châu, Phạm Tu đã giúp Lý Nam Đế huy động tới 3 vạn quân ra chống cự (trong khi toàn dân ở Giao Chỉ lúc đó mới có hơn 70 vạn nhân khẩu, cả trẻ già trai gái). Và trong cuộc kháng chiến lực lượng hai bên quá chênh lệch này, ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (tức 13-8-545), Phạm Tu đã anh dũng hy sinh trong trận chiến giữ thành Tống Bình mới cấp tốc xây dựng bên cửa sông Tô Lịch (phía sau Chợ Đồng Xuân Hà Nội ngày nay), để chặn đại quân địch lại, cho Lý Nam Đế cùng Triệu Quang Phục, bảo toàn lực lượng, tạm rút lên trung du rồi vòng về vùng đầm lầy Dạ Trạch, để xây dựng căn cứ địa chiến đấu lâu dài, nhằm đi đến thắng lợi cuối cùng. Triều đình Nhà Tiền Lý đã giữ vững nền độc lập của Nhà nước Vạn Xuân được thêm gần sáu chục năm nữa (545-602).
Sau khi Lão tướng Phạm Tu hy sinh, Nhà Vua vô cùng thương tiếc, đã cho Thái giám về tận quê hương, truy phong tước Long Biên Hầu (vì chính Người có công đầu trong hạ thành Long Biên, thủ phủ của địch); ban tên thụy là Đô Hồ; sắc cho quê hương là thang mộc ấp, được miễn sưu sai tạp dịch, để thờ Người làm “bản cảnh thành hoàng” lưu truyền mãi mãi.
Các đời sau: Đinh, Lê, Lý, Trần, rồi Hậu Lê, Lê Trung Hưng, Tây Sơn và Nguyễn, đều có sắc phong là Thượng Đẳng Thần, Đô Hồ Đại Thần hay Đô Hồ Đại Vương. Hiện nay ở đây còn lưu giữ được 18 Sắc phong từ thời Cảnh Hưng nhà Lê, qua Cảnh Thịnh, Tây Sơn đến Khải Định, nhà Nguyễn.
Hàng năm, cứ đến 20 tháng Bảy âm lịch-ngày kỷ niệm Trưởng ban Võ của Nhà nước Vạn Xuân, Tả tướng quân Phạm Tu hy sinh để bảo vệ thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay), nhân dân địa phương và các vùng lân cận, các đoàn đại diện họ Phạm trong cả nước về Đình Ngoài xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội để dâng hương tưởng niệm Lão anh hùng của dân tộc, Thượng thủy tổ của họ Phạm Việt Nam-Đô Hồ Đại vương Phạm Tu.
Phạm Tu sinh ngày 10 tháng 3 năm Bính Thìn (tức 19-4-476) tại trang Quang Liệt, nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Song thân của Người là Phạm Thiều và Lý Thị Trạch, vốn là những người đức độ có tiếng trong vùng.
Người là danh nhân họ Phạm xuất hiện sớm nhất trong chính sử: bộ sách “Đại Việt Sử ký Toàn thư” có hai chỗ viết về Người; bộ sách “Biên niên Lịch sử cổ trung đại” có ba lần nhắc đến tên Người…
Từ nhỏ, Người đã là một trang thiếu niên phương phi, tuấn tú; chăm đọc sách, học giỏi, đàn hát hay... Lớn lên lại năng luyện võ nghệ, là một đô vật nổi tiếng, thường được gọi là Đô Tu, rồi đã thật sự trở thành một hào kiệt có uy tín lớn trong vùng.
Sinh ra giữa thời “hơn một nghìn năm Bắc thuộc” (từ năm-179 đến năm +905) nên suốt cuộc đời, Người ẩn dật, nung nấu ý chí cứu nước; lấy biệt hiệu là Cảm Ứng cư sĩ, từng khuyên dân “cửu niên tam tích” -“cửu niên” với nghĩa là lâu dài, nhiều năm, tích trữ ba thứ: lương thực, quần áo, vũ khí … để luôn sẵn sàng, khi thời cơ đến thì vùng lên giành lại non sông.
Năm 541, đã bước sang tuổi 66, Phạm Tu vẫn tích cực hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (503-548) (còn gọi là Lý Bôn). Người đã chủ động tập hợp trai tráng trong vùng, lập thành một đội quân mạnh, đánh chiếm thành Long Biên (vùng Bắc Ninh ngày nay), thủ phủ của chính quyền đô hộ.
Khi dân Lâm Ấp ở phía Nam nước ta, lợi dụng tình thế, tràn sang nước ta cướp bóc, Lý Bí đã cử Người đem quân vào đánh dẹp. Mùa hè năm 543, Người đã đánh tan địch ngay ở Cửu Đức (vùng Hà Tĩnh ngày nay). Trong chiến cuộc này, dưới trướng của Phạm Tu, có cả tướng quân Phục Man, người làng Giá (Yên Sở, Đan Phượng)-sau được thờ làm Thành hoàng làng ở đấy.
Chiến thắng trở về, Người càng được khẳng định là vị tướng tài giỏi nhất trong nghĩa quân và cũng là người cao tuổi nhất. Còn vị tướng trẻ Phục Man được mang “quốc tính” (mang họ Lý-họ Nhà Vua) và trở thành Phò mã.
Năm 544, khi thành lập nước Vạn Xuân, một nhà nước có tổ chức đầu tiên ở nước ta, Người được Lý Nam Đế giao trọng trách làm Tả tướng, đứng đầu Ban Võ-tương đương Bộ trưởng Quốc phòng-Tổng Tư lệnh ngày nay.
Khi Nhà Lương (thuộc Nam triều thời Nam Bắc triều của Trung Quốc (420-589) đã huy động tổng lực của cả 5 châu xung quanh nước ta là: Việt-La-An-Ái-Định sang đàn áp Giao Châu, Phạm Tu đã giúp Lý Nam Đế huy động tới 3 vạn quân ra chống cự (trong khi toàn dân ở Giao Chỉ lúc đó mới có hơn 70 vạn nhân khẩu, cả trẻ già trai gái). Và trong cuộc kháng chiến lực lượng hai bên quá chênh lệch này, ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (tức 13-8-545), Phạm Tu đã anh dũng hy sinh trong trận chiến giữ thành Tống Bình mới cấp tốc xây dựng bên cửa sông Tô Lịch (phía sau Chợ Đồng Xuân Hà Nội ngày nay), để chặn đại quân địch lại, cho Lý Nam Đế cùng Triệu Quang Phục, bảo toàn lực lượng, tạm rút lên trung du rồi vòng về vùng đầm lầy Dạ Trạch, để xây dựng căn cứ địa chiến đấu lâu dài, nhằm đi đến thắng lợi cuối cùng. Triều đình Nhà Tiền Lý đã giữ vững nền độc lập của Nhà nước Vạn Xuân được thêm gần sáu chục năm nữa (545-602).
Sau khi Lão tướng Phạm Tu hy sinh, Nhà Vua vô cùng thương tiếc, đã cho Thái giám về tận quê hương, truy phong tước Long Biên Hầu (vì chính Người có công đầu trong hạ thành Long Biên, thủ phủ của địch); ban tên thụy là Đô Hồ; sắc cho quê hương là thang mộc ấp, được miễn sưu sai tạp dịch, để thờ Người làm “bản cảnh thành hoàng” lưu truyền mãi mãi.
Các đời sau: Đinh, Lê, Lý, Trần, rồi Hậu Lê, Lê Trung Hưng, Tây Sơn và Nguyễn, đều có sắc phong là Thượng Đẳng Thần, Đô Hồ Đại Thần hay Đô Hồ Đại Vương. Hiện nay ở đây còn lưu giữ được 18 Sắc phong từ thời Cảnh Hưng nhà Lê, qua Cảnh Thịnh, Tây Sơn đến Khải Định, nhà Nguyễn.
Hàng năm, cứ đến 20 tháng Bảy âm lịch-ngày kỷ niệm Trưởng ban Võ của Nhà nước Vạn Xuân, Tả tướng quân Phạm Tu hy sinh để bảo vệ thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay), nhân dân địa phương và các vùng lân cận, các đoàn đại diện họ Phạm trong cả nước về Đình Ngoài xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội để dâng hương tưởng niệm Lão anh hùng của dân tộc, Thượng thủy tổ của họ Phạm Việt Nam-Đô Hồ Đại vương Phạm Tu.
PHẠM TU (sinh 476, mất 545 hay 548)
Vũ Tuân Sán
Trong cuộc đấu tranh bền bỉ và lâu dài suốt mười thế kỷ (từ đầu công nguyên cho đến đầu thế kỷ X) của dân tộc ta chống các tập đoàn xâm lược nước ngoài để giành quyền tự chủ, cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo đầu năm 542 là một phong trào có quy mô tương đối rộng lớn. Trong bài Việt sử tổng luận, nhà sử học Lê Tung đã đánh giá cuộc nổi dậy như sau: “Phía Bắc đuổi Tiêu Tư, phía Nam dẹp Lâm Ấp, dựng tên nước, chính ngôi tôn, đặt trăm quan, định niên hiệu, có đại lược về quy hoạch của đế vương”. Để thực hiện được sự nghiệp trên, Lý Bí đã có những cộng tác có tài đức: Triệu Túc làm Thái phó, Phạm Tu làm tướng võ, Tinh Thiều làm tướng văn. Về ba danh nhân này, chính sử không cho biết rõ quê quán ở đâu. Việc điều tra gần đây về lịch sử địa phương cho phép bổ khuyết một phần vào sự thiếu sót đó. Hà Nội có thể tự hào là quê hương của tướng Phạm Tu, vốn người làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì.
Theo thần phả còn giữ được ở địa phương, Phạm Tu sinh năm Bính Thìn (476) vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Cuối năm Tân Dậu (tháng chạp âm lịch tức tháng 1 năm 542) Lý Bí dấy quân chống tên thứ sử Tiêu Tư tham tàn. Cuộc khởi nghĩa đã liên kết được các hào kiệt trong nước. Phạm Tu lúc đó đã 66 tuổi, mặc dù tuổi cao cũng vẫn hăng hái đem binh mã đến giúp và đánh đuổi họ Tiêu khiến hắn phải trốn chạy về Quảng Châu. Nghĩa quân đánh chiếm được thành Long Biên và gấp rút chuẩn bị đối phó với sự phản công của quân giặc. Quả nhiên đầu năm 543, quân Lương lại kéo sang xâm lược, chúng tập trung tướng tá quân sĩ tại bán đảo Hợp Phố (thời kỳ đó vẫn thuộc Châu Giao, tức gắn liền với địa bàn nước ta). Lý Bí đã chủ động đem quân sang tấn công và chiến thắng lớn, tiêu diệt gần hết toán quân xâm lăng.
Tháng 5 năm 543, quân Lâm Ấp ở phương Nam lợi dụng những khó khăn của ta trong việc dẹp quân Lương, đã tiến ra xâm phạm bờ cõi, tiến ra đánh phá miền Đức Châu (Hà Tĩnh ngày nay), Phạm Tu được lệnh đem quân chống lại và đã diệt gọn quân giặc, ổn định được miền biên giới phương Nam. Chiến thắng trên tạo điều kiện cho Lý Bí đầu năm sau (tháng 2 năm 544) chính thức lên ngôi vua, tự xưng là Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.
Ba năm sau (545) quân phong kiến nhà Lương tổ chức lại cuộc chinh phục, cử Dương Phiêu làm thứ sử và Trần Bá Tiên ở Chu Diên, bị thua, bèn lui về cửa sông Tô Lịch (khoảng phố Chợ Gạo ở nội thành Hà Nội hiện nay) dựng thành luỹ để chống lại quân giặc. Tại đây quân của Lý Nam Đế đã chiến đấu rất anh dũng chống lại quân Trần Bá Tiên đông mạnh gấp bội, Vì lực lượng quá chênh lệch, quân ta phải rút lui. Chính Phạm Tu đã hy sinh trong trận chiến đấu ác liệt này. Theo thần phả địa phương ông mất vào ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (545) “trong vòng chiến đấu, xoay cuộc tang thương, Đại vương phút chốc hiển linh thần hoá”. Sử chí không chép việc Phạm Tu hy sinh vào năm nào. Tập diễn ca Thiên Nam ngữ lục viết vào thế kỷ thứ XVIII có ghi cái chết của vị tướng họ Phạm nhưng thời điểm mãi ba năm sau, khi Lý Nam Đế rút về Gia Ninh (Việt Trì) đóng ở hồ Điển Triệt rồi bị quân Trần Bá Tiên tiến đánh, nghĩa quân lại lui về động Khuất Lão và Phạm Tu đã cùng hy sinh với Lý Nam Đế tại ngay động này (tháng 4 năm 548).
Phục Man trấn thủ cõi xa
Nghe tin Nam Đế phải thua Triệt Hồ
Vua cùng tướng quân Phạm Tu
Vào Khuất Liêu động thác hư lên trời
Dù sao thì hai tài liệu trên đều thống nhất ở chỗ Phạm Tu đã tử tiết trong khi chiến đấu chống quân xâm lược. Theo thần tích và truyền thuyết địa phương, ông được phong là Biên Hầu, và có tên thuỵ là Đô Hồ vì tương truyền thần Tây Hồ đã ứng điềm lành khi ông ra đời. Quê hương ông chính là thôn Văn thuộc xã Thanh Liệt ngày nay, tức cũng là quê của Chu Văn An nhà nho nổi tiếng cuối triều Trần sau này. Vua còn ra lệnh cho làng phải dựng đình phụng sự và cả xã Thanh Liệt được công nhận là thang mộc ấp, tức là được miễn trừ sưu dịch để tạo điều kiện cho việc phụng thờ. Ngôi đình chiếm một khu khá đẹp ở cánh đồng thôn Trung, xã Thanh Liệt hiện nay. Trong nội cung hiện còn bức tranh vẽ chân dung ông, ngoài mấy bức tranh khác vẽ những bộ hạ của ông. Theo các phụ lão địa phương, những bức tranh này vẫn truyền lại từ lâu đời, đến năm Nhâm Thân (1932) mới tô họa lại như đã được ghi trên bức tranh treo trong khám. Còn khá nhiều câu đối nhắc lại sự nghiệp đánh giặc cứu nước của ông, tỉ dụ như câu:
Trượng nghĩa cự Lương binh, hách hách tư trung huyền nhật nguyệt
Phong hầu mình Lý sử, miên miên thang mộc ấm phần du
(Khởi nghĩa dẹp quân Lương, lẫm liệt tinh trung ngời nhật nguyệt
Phong hầu sáng sử Lý, vẻ vang thang mộc rạng quê hương).
Hoặc câu:
Tướng sử lục triều, Lương địch quốc.
Thần bi nhất Phạm, liệt danh hương
(Chống quân Lương mức đối địch thời Lục triều, dũng tướng lừng danh sử chép
Dòng họ Phạm quê lừng danh đất Thanh Liệt, thần võ còn dấu bia truyền).
Nguồn tin: Hà Nội Portal, cuốn “Hà Nội xưa & nay”
Đăng trên: http://www.thanglonghanoi.gov.vn/
Ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long
Trong cuộc đấu tranh bền bỉ và lâu dài suốt mười thế kỷ (từ đầu công nguyên cho đến đầu thế kỷ X) của dân tộc ta chống các tập đoàn xâm lược nước ngoài để giành quyền tự chủ, cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo đầu năm 542 là một phong trào có quy mô tương đối rộng lớn. Trong bài Việt sử tổng luận, nhà sử học Lê Tung đã đánh giá cuộc nổi dậy như sau: “Phía Bắc đuổi Tiêu Tư, phía Nam dẹp Lâm Ấp, dựng tên nước, chính ngôi tôn, đặt trăm quan, định niên hiệu, có đại lược về quy hoạch của đế vương”. Để thực hiện được sự nghiệp trên, Lý Bí đã có những cộng tác có tài đức: Triệu Túc làm Thái phó, Phạm Tu làm tướng võ, Tinh Thiều làm tướng văn. Về ba danh nhân này, chính sử không cho biết rõ quê quán ở đâu. Việc điều tra gần đây về lịch sử địa phương cho phép bổ khuyết một phần vào sự thiếu sót đó. Hà Nội có thể tự hào là quê hương của tướng Phạm Tu, vốn người làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì.
Theo thần phả còn giữ được ở địa phương, Phạm Tu sinh năm Bính Thìn (476) vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Cuối năm Tân Dậu (tháng chạp âm lịch tức tháng 1 năm 542) Lý Bí dấy quân chống tên thứ sử Tiêu Tư tham tàn. Cuộc khởi nghĩa đã liên kết được các hào kiệt trong nước. Phạm Tu lúc đó đã 66 tuổi, mặc dù tuổi cao cũng vẫn hăng hái đem binh mã đến giúp và đánh đuổi họ Tiêu khiến hắn phải trốn chạy về Quảng Châu. Nghĩa quân đánh chiếm được thành Long Biên và gấp rút chuẩn bị đối phó với sự phản công của quân giặc. Quả nhiên đầu năm 543, quân Lương lại kéo sang xâm lược, chúng tập trung tướng tá quân sĩ tại bán đảo Hợp Phố (thời kỳ đó vẫn thuộc Châu Giao, tức gắn liền với địa bàn nước ta). Lý Bí đã chủ động đem quân sang tấn công và chiến thắng lớn, tiêu diệt gần hết toán quân xâm lăng.
Tháng 5 năm 543, quân Lâm Ấp ở phương Nam lợi dụng những khó khăn của ta trong việc dẹp quân Lương, đã tiến ra xâm phạm bờ cõi, tiến ra đánh phá miền Đức Châu (Hà Tĩnh ngày nay), Phạm Tu được lệnh đem quân chống lại và đã diệt gọn quân giặc, ổn định được miền biên giới phương Nam. Chiến thắng trên tạo điều kiện cho Lý Bí đầu năm sau (tháng 2 năm 544) chính thức lên ngôi vua, tự xưng là Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.
Ba năm sau (545) quân phong kiến nhà Lương tổ chức lại cuộc chinh phục, cử Dương Phiêu làm thứ sử và Trần Bá Tiên ở Chu Diên, bị thua, bèn lui về cửa sông Tô Lịch (khoảng phố Chợ Gạo ở nội thành Hà Nội hiện nay) dựng thành luỹ để chống lại quân giặc. Tại đây quân của Lý Nam Đế đã chiến đấu rất anh dũng chống lại quân Trần Bá Tiên đông mạnh gấp bội, Vì lực lượng quá chênh lệch, quân ta phải rút lui. Chính Phạm Tu đã hy sinh trong trận chiến đấu ác liệt này. Theo thần phả địa phương ông mất vào ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (545) “trong vòng chiến đấu, xoay cuộc tang thương, Đại vương phút chốc hiển linh thần hoá”. Sử chí không chép việc Phạm Tu hy sinh vào năm nào. Tập diễn ca Thiên Nam ngữ lục viết vào thế kỷ thứ XVIII có ghi cái chết của vị tướng họ Phạm nhưng thời điểm mãi ba năm sau, khi Lý Nam Đế rút về Gia Ninh (Việt Trì) đóng ở hồ Điển Triệt rồi bị quân Trần Bá Tiên tiến đánh, nghĩa quân lại lui về động Khuất Lão và Phạm Tu đã cùng hy sinh với Lý Nam Đế tại ngay động này (tháng 4 năm 548).
Phục Man trấn thủ cõi xa
Nghe tin Nam Đế phải thua Triệt Hồ
Vua cùng tướng quân Phạm Tu
Vào Khuất Liêu động thác hư lên trời
Dù sao thì hai tài liệu trên đều thống nhất ở chỗ Phạm Tu đã tử tiết trong khi chiến đấu chống quân xâm lược. Theo thần tích và truyền thuyết địa phương, ông được phong là Biên Hầu, và có tên thuỵ là Đô Hồ vì tương truyền thần Tây Hồ đã ứng điềm lành khi ông ra đời. Quê hương ông chính là thôn Văn thuộc xã Thanh Liệt ngày nay, tức cũng là quê của Chu Văn An nhà nho nổi tiếng cuối triều Trần sau này. Vua còn ra lệnh cho làng phải dựng đình phụng sự và cả xã Thanh Liệt được công nhận là thang mộc ấp, tức là được miễn trừ sưu dịch để tạo điều kiện cho việc phụng thờ. Ngôi đình chiếm một khu khá đẹp ở cánh đồng thôn Trung, xã Thanh Liệt hiện nay. Trong nội cung hiện còn bức tranh vẽ chân dung ông, ngoài mấy bức tranh khác vẽ những bộ hạ của ông. Theo các phụ lão địa phương, những bức tranh này vẫn truyền lại từ lâu đời, đến năm Nhâm Thân (1932) mới tô họa lại như đã được ghi trên bức tranh treo trong khám. Còn khá nhiều câu đối nhắc lại sự nghiệp đánh giặc cứu nước của ông, tỉ dụ như câu:
Trượng nghĩa cự Lương binh, hách hách tư trung huyền nhật nguyệt
Phong hầu mình Lý sử, miên miên thang mộc ấm phần du
(Khởi nghĩa dẹp quân Lương, lẫm liệt tinh trung ngời nhật nguyệt
Phong hầu sáng sử Lý, vẻ vang thang mộc rạng quê hương).
Hoặc câu:
Tướng sử lục triều, Lương địch quốc.
Thần bi nhất Phạm, liệt danh hương
(Chống quân Lương mức đối địch thời Lục triều, dũng tướng lừng danh sử chép
Dòng họ Phạm quê lừng danh đất Thanh Liệt, thần võ còn dấu bia truyền).
Nguồn tin: Hà Nội Portal, cuốn “Hà Nội xưa & nay”
Đăng trên: http://www.thanglonghanoi.gov.vn/
Ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long
MỘT SỐ SỰ KIỆN VÀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU GẦN ĐÂY VỀ DANH TƯỚNG PHẠM TU
(Theo cuốn “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt” ấn hành nội tộc năm 2007 của Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam)
Ngày 20 tháng 7 năm Đinh Sửu (1997), nhân ngày lễ hội tưởng niệm hàng năm tại địa phương, Ban Liên lạc họ Phạm toàn quốc đã trân trọng đề nghị suy tôn Phạm Tu làm Thượng Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam. Đề xuất này đã được mọi người tán thành.
Ngày 08-9-1998, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã tổ chức HỘI THẢO TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN PHẠM TU tại Hội trường Bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội. Trong Hội thảo có năm báo cáo khoa học của:
-Học giả Vũ Tuân Sán, Bài viết đăng báo Hà Nội mới ngày 28/7/1969
-Phó Giáo sư Sử học Lê Văn Lan,
-Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc (bài đã đăng báo Nhân dân 21-8-1997),
-Nhà sử học Trần Lê Sáng (bài đã đăng tạp chí Xưa & Nay, số tháng 8-1997),
-Trưởng Ban Lịch sử xã Thanh Liệt, Hà Nội: Nguyễn Đăng Thưởng
Cùng một bản thông báo của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng (thành viên Ban Tư liệu họ Phạm Việt Nam) nói về các danh nhân và các chi họ Phạm, hậu duệ của Phạm Tu, được biết cho đến lúc đó.
Hội thảo còn có phát biểu của ông Phạm Minh Đức (đã từng là Phó Giám đốc Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Thái Bình) và Cử nhân Phạm Quốc Chử, giáo viên trường THPT Tây Tiến, Tiền Hải, Thái Bình. Cuộc Hội thảo diễn ra rất sôi nổi, do Tổng Thư kí Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam-Dương Trung Quốc, khai mạc, dắt dẫn chương trình và phát biểu bế mạc. Chính ông đã đề xuất ý kiến: Thủ đô Hà Nội nên có một đường phố mang tên Phạm Tu.
- Ngay sau Hội thảo, PGS. TS. Phạm Hồng đã tập hợp các thông tin trong Hội thảo, biên tập thành tài liệu “DANH TƯỚNG PHẠM TU-... Thượng thuỷ Tổ họ Phạm” (20 trang 14, 5 x 20, 4 cm xuất bản lần đầu năm 1998) phát hành trong nội tộc vào những dịp giỗ Người, 20-7 âm lịch hàng năm.
- 5 báo cáo khoa học trong Hội thảo đã được Phó Giám đốc Trung tâm UNESCO Thông tin Tư liệu Văn hoá và Lịch sử Phạm Đình Nhân, tập hợp cùng những tư liệu về họ Phạm trong lịch sử, do bản thân sưu tầm, để biên soạn thành cuốn sách: “DANH TƯỚNG PHẠM TU và HỌ PHẠM TRONG LỊCH SỬ” do Nxb. Văn hóa Thông tin xuất bản, Hà Nội-1999 (392 trang 14, 5 x 20, 4 cm-phần Họ Phạm trong lịch sử chiếm tới 336 trang, còn phần Phạm Tu có 56 trang).
- Năm 2003, Thượng tá Kĩ sư Phạm Hồng Vũ, chuyên gia Hán-Nôm, Phó Tổng Thư kí của Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam đã dày công sưu tầm thêm các tư liệu quốc ngữ và Hán Nôm, dịch và soạn thành cuốn sách chuyên đề: “DANH TƯỚNG PHẠM TU (476-545) Khai quốc công thần nhà Tiền Lý, Thượng Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam”
Sách dày 154 trang khổ 13 x 19 cm do Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội xuất bản, Hà Nội-2003.
Ngày 20 tháng 7 năm Đinh Sửu (1997), nhân ngày lễ hội tưởng niệm hàng năm tại địa phương, Ban Liên lạc họ Phạm toàn quốc đã trân trọng đề nghị suy tôn Phạm Tu làm Thượng Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam. Đề xuất này đã được mọi người tán thành.
Ngày 08-9-1998, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã tổ chức HỘI THẢO TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN PHẠM TU tại Hội trường Bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội. Trong Hội thảo có năm báo cáo khoa học của:
-Học giả Vũ Tuân Sán, Bài viết đăng báo Hà Nội mới ngày 28/7/1969
-Phó Giáo sư Sử học Lê Văn Lan,
-Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc (bài đã đăng báo Nhân dân 21-8-1997),
-Nhà sử học Trần Lê Sáng (bài đã đăng tạp chí Xưa & Nay, số tháng 8-1997),
-Trưởng Ban Lịch sử xã Thanh Liệt, Hà Nội: Nguyễn Đăng Thưởng
Cùng một bản thông báo của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng (thành viên Ban Tư liệu họ Phạm Việt Nam) nói về các danh nhân và các chi họ Phạm, hậu duệ của Phạm Tu, được biết cho đến lúc đó.
Hội thảo còn có phát biểu của ông Phạm Minh Đức (đã từng là Phó Giám đốc Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Thái Bình) và Cử nhân Phạm Quốc Chử, giáo viên trường THPT Tây Tiến, Tiền Hải, Thái Bình. Cuộc Hội thảo diễn ra rất sôi nổi, do Tổng Thư kí Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam-Dương Trung Quốc, khai mạc, dắt dẫn chương trình và phát biểu bế mạc. Chính ông đã đề xuất ý kiến: Thủ đô Hà Nội nên có một đường phố mang tên Phạm Tu.
- Ngay sau Hội thảo, PGS. TS. Phạm Hồng đã tập hợp các thông tin trong Hội thảo, biên tập thành tài liệu “DANH TƯỚNG PHẠM TU-... Thượng thuỷ Tổ họ Phạm” (20 trang 14, 5 x 20, 4 cm xuất bản lần đầu năm 1998) phát hành trong nội tộc vào những dịp giỗ Người, 20-7 âm lịch hàng năm.
- 5 báo cáo khoa học trong Hội thảo đã được Phó Giám đốc Trung tâm UNESCO Thông tin Tư liệu Văn hoá và Lịch sử Phạm Đình Nhân, tập hợp cùng những tư liệu về họ Phạm trong lịch sử, do bản thân sưu tầm, để biên soạn thành cuốn sách: “DANH TƯỚNG PHẠM TU và HỌ PHẠM TRONG LỊCH SỬ” do Nxb. Văn hóa Thông tin xuất bản, Hà Nội-1999 (392 trang 14, 5 x 20, 4 cm-phần Họ Phạm trong lịch sử chiếm tới 336 trang, còn phần Phạm Tu có 56 trang).
- Năm 2003, Thượng tá Kĩ sư Phạm Hồng Vũ, chuyên gia Hán-Nôm, Phó Tổng Thư kí của Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam đã dày công sưu tầm thêm các tư liệu quốc ngữ và Hán Nôm, dịch và soạn thành cuốn sách chuyên đề: “DANH TƯỚNG PHẠM TU (476-545) Khai quốc công thần nhà Tiền Lý, Thượng Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam”
Sách dày 154 trang khổ 13 x 19 cm do Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội xuất bản, Hà Nội-2003.
DANH TƯỚNG PHẠM TU (476-545), VỊ KHAI QUỐC CÔNG THẦN TRIỀU TIỀN LÝ
PHẠM ĐÌNH NHÂN
Bộ chính sử lớn của nước ta, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã để lại những dòng ghi về vị tướng tài họ Phạm như sau:
“Mùa hạ, tháng 4 năm Quý Hợi (543) vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng Phạm Tu đánh tan giặc ở quận Cửu Đức” và:
“Mùa Xuân, tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, lấy Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ”.
Cuốn Việt Nam sử lược cũng viết:
“Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang quấy phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.”
Đó là nói về những cứ liệu trong quốc sử, nhưng còn nguồn thư tịch khác ngoài quốc sử là các đạo sắc phong của các triều đại từ triều Lê đến triều Nguyễn phong cho Long Biên hầu Đô Hồ Đại vương Phạm Tu, thì ở Thanh Liệt cho đến nay còn giữ được 18 đạo sắc phong quan trọng.
Những tư liệu quốc sử, sắc phong là những thư tịch chính thống đã giúp rất nhiều trong việc tìm hiểu danh tướng Phạm Tu. Ngoài ra còn khá nhiều nguồn tài liệu ghi chép mà chủ yếu là tại đền thờ nơi quê hương danh nhân ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Nơi đây có rất nhiều tư liệu như thần tích, bài vị, câu đối v.. v.. nói về Người.
Theo thần tích, Phạm Tu người làng Thanh Liệt. Nơi sinh ra Phạm Tu, xưa kia là một xóm bãi vải tiến vua nằm bên sông Tô Lịch thuộc thôn Văn Trì, làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàm trấn Sơn Nam, nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Phạm Tu sinh ngày 10 tháng 3 năm Bính Thìn (năm 476), thân phụ là Phạm Thiều, thân mẫu là Lý Thị Trạch. Khi lớn lên, Phạm Tu phương phi, tuấn tú, học giỏi, tư chất thông minh, hay đọc sách nhất là binh thư yếu lược. Người vóc dáng rất khoẻ và trở thành đô vật nổi tiếng trong vùng, thường được gọi là Phạm Đô Tu.
Cuối năm Tân Dậu (tháng Giêng năm 542), Giám quân châu Cửu Đức là Lý Bôn (hay còn gọi là Lý Bí) dấy binh khởi nghĩa, chống lại quân đô hộ nhà Lương và viên thứ sử cai trị nước ta bấy giờ là Tiêu Tư nổi tiếng tàn ác. Cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn được nhân dân và anh hào khắp nơi ủng hộ nô nức kéo về giúp sức. Ở Đan Phượng (Hà Tây) có hào trưởng Triệu Túc, ở Sấu Giá, Hoài Đức (Hà Tây) có Lý Phục Man. Lại có cả Tinh Thiều nguyên là quan cai trị của Nhà Lương, bỏ quan chức chạy về với quân khởi nghĩa. Trong số những vị anh hùng tham gia cùng Lý Bôn khởi nghĩa phải kể đến võ tướng Phạm Tu.
Năm ấy Phạm Tu đã 67 tuổi, song tuổi tác không ngăn được lòng yêu nước đánh đuổi ngoại xâm. Phạm Tu đã tập hợp binh mã, tổ chức quân khởi nghĩa và trở thành một võ tướng chủ chốt của quân khởi nghĩa. Ông cùng với Triệu Túc và Tinh Thiều, trở thành ba vị lãnh đạo chính trong bộ tham mưu của cuộc kháng chiến chống quân Lương do Lý Bôn lãnh đạo. Quân khởi nghĩa đánh đâu thắng đấy. Thứ sử Tiêu Tư bỏ chạy về nước. Nghĩa quân chiếm đóng thành Long Biên và chuẩn bị đối phó với cuộc xâm lăng mới của địch. Năm sau, năm 543, Nhà Lương lại tập trung quân chuẩn bị đánh chiếm nước ta. Lý Bôn chủ động đem quân tấn công, tiêu diệt được gần hết đoàn quân xâm lược này. Cũng trong thời gian đó, vua Lâm Ấp (Chiêm Thành) lợi dụng tình hình quân khởi nghĩa đang đương đầu với phương Bắc, đã đem quân đánh phá vùng Cửu Đức (Hà Tĩnh ngày nay) vào tháng 5 năm 543. Lý Bí cử danh tướng Phạm Tu đưa quân đi chống lại và cuối cùng đã tiêu diệt gọn quân Lâm Ấp, ổn định biên giới phía Nam. Những chiến thắng trên đã đưa Lý Bí chính thức lên ngôi vua vào đầu năm 544, lấy danh hiệu là Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội, lấy Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều đứng đầu Ban Văn, Phạm Tu đứng đầu Ban Võ của triều đình trở thành vị khai quốc công thần Nhà Tiền Lý.
Tháng 6 năm Ất Sửu (năm 545), Nhà Lương lại tổ chức xâm lược nước ta một lần nữa. Quân Lương cử hai tướng thiện chiến là Dương Phiêu và Trần Bá Tiên chỉ huy đại quân theo đường biển tiến sang nước ta. Lý Bí chống cự ở Chu Diên (vùng duyên hải Thái Bình, Nam Định) không nổi, lui về củng cố thành trì ở cửa sông Tô Lịch (nay là đoạn phố Chợ Gạo, Hà Nội). Võ tướng Phạm Tu giữ cửa sông Tô Lịch một thời gian, nhưng vì tuổi cao sức yếu, quân giặc lại đông, nên ông đã hy sinh anh dũng vào ngày 20 tháng 7 năm ấy. Lý Nam Đế rút quân vào Gia Ninh đóng đồn ở hồ Điển Triệt, luyện tập binh mã để sau khôi phục lại.
Xét công trạng của Phạm Tu, Lý Nam Đế ban tặng phong Phạm Tu là Long Biên hầu, đặt thụy là Đô Hồ, phong làm Bản cảnh thành hoàng, sắc cho bản hương là Thang Mộc ấp, sưu sai tạp dịch đều được miễn trừ, ban 100 nén bạc lập miếu phụng sự lưu truyền mãi mãi, đó là làng Thanh Liệt, nơi sinh ra danh tướng Phạm Tu.
Hiện nay ở xã Thanh Liệt có hai nơi thờ danh tướng Phạm Tu, đó là Miếu Vực và Đình Ngoài. Miếu Vực nằm ở xóm Vực, miếu thờ Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương cùng Thánh phụ Phạm Thiều và thánh mẫu Lý Thị Trạch.
Đình Ngoài ở ngoài đồng thuộc thôn Trung, Đình có hồ lớn gọi là hồ Tròn, nơi thờ chính của Đô Hồ Đại vương Phạm Tu là thành hoàng làng Thanh Liệt, nơi mà nhiều năm gần đây dân làng Thanh Liệt và bà con họ Phạm trên khắp cả nước thường về dự tế lễ nhân ngày giỗ của Người vào ngày 20 tháng 7 âm lịch hàng năm.
Tháng 10 năm 1996, cuộc họp mặt toàn quốc lần thứ Nhất của các dòng họ Phạm đã thành lập Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam tại chùa Quán Sứ. Ngay từ khi thành lập Ban Liên lạc đã suy tôn danh tướng Phạm Tu là Thượng thuỷ tổ của các dòng họ Phạm Việt Nam vì Người là vị họ Phạm xuất hiện đầu tiên trong chính sử và có nhiều công lao cho đất nước. Và từ khi đó đến nay hàng năm bà con họ Phạm ở nhiều địa phương trong cả nước thường về dự giỗ Tổ Phạm Tu tại đền thờ của Người ở làng Thanh Liệt.
Năm nay, nhân ngày giỗ lần thứ 1461 của Thượng thuỷ tổ Phạm Tu và nhân kỷ niệm 10 năm thành lập Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam, bà con chúng ta lại một lần nữa về quê hương của Thuỷ tổ tại Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội để dự lễ tế Tổ, dâng nén hương thơm nhớ về tổ tiên, nhớ về vị tiền bối đã làm rạng danh dòng họ Phạm và cũng là về dự Cuộc họp mặt dòng họ Phạm lần thứ 10 ở ngay tại quê hương Người.
Nguồn tin: www.hophamvietnam.org
Bộ chính sử lớn của nước ta, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã để lại những dòng ghi về vị tướng tài họ Phạm như sau:
“Mùa hạ, tháng 4 năm Quý Hợi (543) vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng Phạm Tu đánh tan giặc ở quận Cửu Đức” và:
“Mùa Xuân, tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, lấy Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ”.
Cuốn Việt Nam sử lược cũng viết:
“Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang quấy phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.”
Đó là nói về những cứ liệu trong quốc sử, nhưng còn nguồn thư tịch khác ngoài quốc sử là các đạo sắc phong của các triều đại từ triều Lê đến triều Nguyễn phong cho Long Biên hầu Đô Hồ Đại vương Phạm Tu, thì ở Thanh Liệt cho đến nay còn giữ được 18 đạo sắc phong quan trọng.
Những tư liệu quốc sử, sắc phong là những thư tịch chính thống đã giúp rất nhiều trong việc tìm hiểu danh tướng Phạm Tu. Ngoài ra còn khá nhiều nguồn tài liệu ghi chép mà chủ yếu là tại đền thờ nơi quê hương danh nhân ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Nơi đây có rất nhiều tư liệu như thần tích, bài vị, câu đối v.. v.. nói về Người.
Theo thần tích, Phạm Tu người làng Thanh Liệt. Nơi sinh ra Phạm Tu, xưa kia là một xóm bãi vải tiến vua nằm bên sông Tô Lịch thuộc thôn Văn Trì, làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàm trấn Sơn Nam, nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Phạm Tu sinh ngày 10 tháng 3 năm Bính Thìn (năm 476), thân phụ là Phạm Thiều, thân mẫu là Lý Thị Trạch. Khi lớn lên, Phạm Tu phương phi, tuấn tú, học giỏi, tư chất thông minh, hay đọc sách nhất là binh thư yếu lược. Người vóc dáng rất khoẻ và trở thành đô vật nổi tiếng trong vùng, thường được gọi là Phạm Đô Tu.
Cuối năm Tân Dậu (tháng Giêng năm 542), Giám quân châu Cửu Đức là Lý Bôn (hay còn gọi là Lý Bí) dấy binh khởi nghĩa, chống lại quân đô hộ nhà Lương và viên thứ sử cai trị nước ta bấy giờ là Tiêu Tư nổi tiếng tàn ác. Cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn được nhân dân và anh hào khắp nơi ủng hộ nô nức kéo về giúp sức. Ở Đan Phượng (Hà Tây) có hào trưởng Triệu Túc, ở Sấu Giá, Hoài Đức (Hà Tây) có Lý Phục Man. Lại có cả Tinh Thiều nguyên là quan cai trị của Nhà Lương, bỏ quan chức chạy về với quân khởi nghĩa. Trong số những vị anh hùng tham gia cùng Lý Bôn khởi nghĩa phải kể đến võ tướng Phạm Tu.
Năm ấy Phạm Tu đã 67 tuổi, song tuổi tác không ngăn được lòng yêu nước đánh đuổi ngoại xâm. Phạm Tu đã tập hợp binh mã, tổ chức quân khởi nghĩa và trở thành một võ tướng chủ chốt của quân khởi nghĩa. Ông cùng với Triệu Túc và Tinh Thiều, trở thành ba vị lãnh đạo chính trong bộ tham mưu của cuộc kháng chiến chống quân Lương do Lý Bôn lãnh đạo. Quân khởi nghĩa đánh đâu thắng đấy. Thứ sử Tiêu Tư bỏ chạy về nước. Nghĩa quân chiếm đóng thành Long Biên và chuẩn bị đối phó với cuộc xâm lăng mới của địch. Năm sau, năm 543, Nhà Lương lại tập trung quân chuẩn bị đánh chiếm nước ta. Lý Bôn chủ động đem quân tấn công, tiêu diệt được gần hết đoàn quân xâm lược này. Cũng trong thời gian đó, vua Lâm Ấp (Chiêm Thành) lợi dụng tình hình quân khởi nghĩa đang đương đầu với phương Bắc, đã đem quân đánh phá vùng Cửu Đức (Hà Tĩnh ngày nay) vào tháng 5 năm 543. Lý Bí cử danh tướng Phạm Tu đưa quân đi chống lại và cuối cùng đã tiêu diệt gọn quân Lâm Ấp, ổn định biên giới phía Nam. Những chiến thắng trên đã đưa Lý Bí chính thức lên ngôi vua vào đầu năm 544, lấy danh hiệu là Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội, lấy Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều đứng đầu Ban Văn, Phạm Tu đứng đầu Ban Võ của triều đình trở thành vị khai quốc công thần Nhà Tiền Lý.
Tháng 6 năm Ất Sửu (năm 545), Nhà Lương lại tổ chức xâm lược nước ta một lần nữa. Quân Lương cử hai tướng thiện chiến là Dương Phiêu và Trần Bá Tiên chỉ huy đại quân theo đường biển tiến sang nước ta. Lý Bí chống cự ở Chu Diên (vùng duyên hải Thái Bình, Nam Định) không nổi, lui về củng cố thành trì ở cửa sông Tô Lịch (nay là đoạn phố Chợ Gạo, Hà Nội). Võ tướng Phạm Tu giữ cửa sông Tô Lịch một thời gian, nhưng vì tuổi cao sức yếu, quân giặc lại đông, nên ông đã hy sinh anh dũng vào ngày 20 tháng 7 năm ấy. Lý Nam Đế rút quân vào Gia Ninh đóng đồn ở hồ Điển Triệt, luyện tập binh mã để sau khôi phục lại.
Xét công trạng của Phạm Tu, Lý Nam Đế ban tặng phong Phạm Tu là Long Biên hầu, đặt thụy là Đô Hồ, phong làm Bản cảnh thành hoàng, sắc cho bản hương là Thang Mộc ấp, sưu sai tạp dịch đều được miễn trừ, ban 100 nén bạc lập miếu phụng sự lưu truyền mãi mãi, đó là làng Thanh Liệt, nơi sinh ra danh tướng Phạm Tu.
Hiện nay ở xã Thanh Liệt có hai nơi thờ danh tướng Phạm Tu, đó là Miếu Vực và Đình Ngoài. Miếu Vực nằm ở xóm Vực, miếu thờ Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương cùng Thánh phụ Phạm Thiều và thánh mẫu Lý Thị Trạch.
Đình Ngoài ở ngoài đồng thuộc thôn Trung, Đình có hồ lớn gọi là hồ Tròn, nơi thờ chính của Đô Hồ Đại vương Phạm Tu là thành hoàng làng Thanh Liệt, nơi mà nhiều năm gần đây dân làng Thanh Liệt và bà con họ Phạm trên khắp cả nước thường về dự tế lễ nhân ngày giỗ của Người vào ngày 20 tháng 7 âm lịch hàng năm.
Tháng 10 năm 1996, cuộc họp mặt toàn quốc lần thứ Nhất của các dòng họ Phạm đã thành lập Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam tại chùa Quán Sứ. Ngay từ khi thành lập Ban Liên lạc đã suy tôn danh tướng Phạm Tu là Thượng thuỷ tổ của các dòng họ Phạm Việt Nam vì Người là vị họ Phạm xuất hiện đầu tiên trong chính sử và có nhiều công lao cho đất nước. Và từ khi đó đến nay hàng năm bà con họ Phạm ở nhiều địa phương trong cả nước thường về dự giỗ Tổ Phạm Tu tại đền thờ của Người ở làng Thanh Liệt.
Năm nay, nhân ngày giỗ lần thứ 1461 của Thượng thuỷ tổ Phạm Tu và nhân kỷ niệm 10 năm thành lập Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam, bà con chúng ta lại một lần nữa về quê hương của Thuỷ tổ tại Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội để dự lễ tế Tổ, dâng nén hương thơm nhớ về tổ tiên, nhớ về vị tiền bối đã làm rạng danh dòng họ Phạm và cũng là về dự Cuộc họp mặt dòng họ Phạm lần thứ 10 ở ngay tại quê hương Người.
Nguồn tin: www.hophamvietnam.org
CHỨNG AN MINH ỨNG HỰU QUỐC CÔNG
(Theo “Việt điện u linh tập” của Lý Tế Xuyên, dịch giả Lê Hữu Mục toàn biên và viết dẫn nhập tại Huế năm 1959, Khai Trí, Sài Gòn, 1961. )
Xét Sử ký Đỗ Thiên chép rằng: Vương họ Lý tên Phục Man. Vua Lý Thái Tổ đi tuần phương đến sông Sở Bộ Đầu, thấy giang sơn tú khí, phong cảnh thắng du, nhà vua tâm thần cảm hứng, mới rót ly rượu đổ xuống tràng giang, vái rằng:
-Trẫm xem chỗ này non xanh nước biếc khác hẳn mọi nơi, nếu có nhân kiệt u linh, xin hưởng.
Đêm ấy vua mộng thấy một dị nhân cao đại, mặt hổ râu rồng, y phục trang nghiêm, cân hài tề chỉnh, đến trước nhà vua cúi đầu lạy hai lạy mà tâu rằng:
-Thần vốn là người ở làng này, họ Lý tên Phục Man, giúp Lý Nam Đế làm Tướng quân, nhờ sự trung liệt được vua biết tên, mới sai trấn thủ hai giải sơn hà Đỗ Động và Đường Lâm, mọi Lào đều sợ không dám phạm biên, một phương yên ổn. Đến lúc chết, Thượng đế thương kẻ trung nên cho giữ chức như cũ. Nay thần xin kể một vài chuyện để Bệ hạ nghe thử. Thời vua Tương Vương nhà Đường, thần thường đem quỷ binh theo Khâu Hòa phá được nghịch tặc là Nịnh Tràng Chân ở cửa Giáp Sơn, thời vua Túc Tông lại phá được giặc Đại Thực Ba Tư ở cửa Thần Thạch, thời vua Đại Tông lại phá giặc Côn Lôn, Đồ Bà ở Chu Diên. Cao Vương phá nước Nam Chiếu; Ngô Tiên Chúa phá nước Nam Hán, vua Lê Đại Hành phá Tống binh, mỗi lần xuất binh chinh phạt, thần ở trên không đem quỷ binh ám trở, thảy đều có công. Thần lại thường thống suất quân binh quỷ thần, vâng theo mệnh Thiên đế phá giặc Chiêm Thành ở trấn Giáp Sơn. Đến khi thần mệnh một, u linh không tán, thôn dân kính mến, lại sợ không ai phòng thủ, mọi Lào đến cướp bóc, nhân đó lập đền thờ phụng; bởi vậy, thần thường phảng phất ở khoảng trời mây, phàm gặp khi có dụng binh, thần ở trên không ám hộ, nghịch lỗ nhập khấu thì đều hãn ngự được. Bấy giờ gặp Bệ hạ loan giá quang lâm, thần xin đến bái yết.
Nói đoạn, ngâm bốn câu thơ rằng:
Thiên hạ toàn mông muội
Hãy tạm ẩn thanh danh,
Giữa trời nêu nhật, nguyệt,
Quang diệu ấy chân hình.
Ngâm xong liền biến mất; vua chưa kịp đối đáp, hốt nhiên tỉnh dậy, nói lại với tả hữu; quan Ngự sử Đại Phu Lương Văn Nhậm nói:
-Đó là lời thần muốn hiển linh để lập hình tượng.
Vua sai người xin keo, quả nhiên lập ứng.
Vua sắc cho người trong châu lập đền thờ, tạc tượng thần y như đã trông thấy trong mộng, miếu mạo sum liệt, làm Phúc thần một phương.
Trong thời Nguyên Phong , Thát Đát nhập khấu, đến biên cảnh thì ngựa què không tiến được; thôn dân biết có sức thần ám trợ mới đem dân chúng ra cự chiến, chém được đầu giặc rất nhiều; giặc thua chạy tán loạn, không dám trở lại dòm dỏ bờ cõi nữa. Khấu tặc bình xong, sắc phong Chứng An Nam Quốc Công, chiếu cho thôn ấy đổi tên là Hộ Xá Chứng An.
Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu, giặc Bắc lại vào ăn cướp, mấy chỗ khác đều bị đốt cháy cả, duy có ấp này như có phòng hộ, một mảy lông mùa thu cũng không bị phạm tới.
Giặc bình xong, sắc phong Chứng An Vương, năm thứ tư gia phong hai chữ Minh Ứng, năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong hai chữ Tá Quốc, càng ngày càng thêm linh ứng vậy.
Tiếm bình
Cái khí tinh hoa của sông núi, kết lại hóa ra vàng ngọc châu báu, như ngọc bích ở Lam Điền, ngọc châu Dạ Quang, vốn là có tiếng quý giá xưa nay. Còn đến như con người cũng thế, thiện nhân quân tử là tinh hoa của cái khí ấy. Sông Sở Bộ Đầu, sơn kỳ thuỷ tú, người tài đất linh, Lý Tướng quân thực là vun đức ở đây, kịp đến lúc thờ vua Nam Đế làm Tướng quân, oai nghiêm làm rào ngăn cho hai xứ Đỗ Động và Đường Lâm. Thân cỡi đuôi sao Cơ, quanh vùng biết tiếng, cái khí anh sản thường tụ lại, cái công võ liệt thêm kỳ. Phá Trường Chân ở Giáp Sơn, giết Đồ Bà ở Châu Diên, bình nước Nam Chiếu, định nước Nam Hán, đuổi binh nhà Tống, Thần chắc không nói dối ta vậy.
Trong bài thơ, lời ý du dương, quý tính tôn danh, không muốn nói với thôn dân khách tục, dựng đền đúc tượng, dung mạo tôn nghiêm, kẻ chợ dân mường đều kính ngưỡng. Xem như rợ Thát Đát rất mạnh, mang cung đến đâu, tỉ dụ đến nhà Liêu Hạ, nhà Kim, nhà Tống các nước lớn ấy cũng đều trông gió mà xếp gươm giáo, huống chi chúng kéo sang Nam như gió cuốn mây ùn, sấm gào chớp nhoáng, thế mà ông lấy sức thần lui được binh giặc, khiến cho nhân dân được ăn yên ở yên như xưa. Ở chỗ bình nguyên hễ có công đức với dân thì được phụng sự, thế thì công đức của ông biết chừng nào vậy.
Miếu nay ở làng Cổ Sở huyện An Phụng, chế độ rất chỉnh, lễ bộ rực rỡ, mỗi năm lễ nghinh yết có xướng hát, làm một cảnh đại đô hội ở sông Hát Giang, triều trước đời nào dân cũng được tha thuế, đối với đền Phù Đổng, đền Bạch Đằng cùng ngang hàng nhau, rất là thịnh vượng.
Tục truyền rằng ông tiến sĩ làng Ninh Xá tên là Nguyễn Mại trấn tỉnh Sơn Tây thường phụng mạng đem lễ đến cúng, ngủ lại trong đền làng Cổ Sở, mộng thấy một người đàn bà đeo ngọc, mão vàng, áo gấm, giầy thêu, xiêm lụa, có cái dáng điệu hoa ghen nguyệt thẹn, cái nhan sắc mặt ngọc da hồng, tay cầm một nhánh hoa mai phe phẩy đến trước chỗ ngồi, gió thanh mát mặt, hương khí ngát người; người đàn bà ấy thưa rằng:
-Từ khi lang quân thiếp đi vắng, trướng hồ vắng vẻ một mình không người săn sóc, nay Tôn giả đến đây, đền thờ không lấy gì làm quang khiết. Sứ quân có lòng tốt, xin nhờ trùng tu lại cho.
Nguyễn Mại hỏi lại rằng:
-Vậy chớ lang quân tên họ là gì?
Nàng nói:
-Lang quân thiếp tên là Lý Tướng quân, kim sinh tức là ông tiến sĩ làng Thanh Mai tên là Lê Anh Tuấn, hiện nay đang đi sứ Tàu, xin trình Sứ quan rõ.
Hốt nhiên gió động lan can, Nguyễn Mại tỉnh dậy, thì ra là một giấc mộng kê vàng, mới đem câu chuyện trong mộng thuật lại cho người làng nghe, và bảo sửa sang đền thờ lại cho tử tế. Khi đi sứ về, Lê Anh Tuấn thường qua lại nhà Nguyễn Mại đi lại trò chuyện. Nguyễn Mại gọi người nhà đến chỉ Lê Anh Tuấn mà bảo rằng:
-Ông này là Chứng An Vương đền Cổ Sở đó.
Lê Công giỏi văn học, làm quan đến Thượng thư, quyền thế lừng lẫy. Tuy là chuyện mộng mị chưa dám tin chắc, nhưng qua lại thầm kín, đôi khi cũng hở mối manh. Ông Phạm Trọng Yêm với Đạo nhân Côn Lôn đời trước, ông Phú Bật với thầy chùa Xung Hư Quán cũng phảng phất giống như vậy.
Phụ lục:
Sự tích đền thờ thần xã An Sở
Xét Đại Việt Ngoại Sử chép rằng: Gia Thông Đại Vương vốn là người làng Cổ Sở (sau đổi ra An Sở). Lúc bấy giờ thiên hạ loạn ly, kẻ hào kiệt dấu họ dấu tên để tránh nạn.
Thưở nhỏ, Đại Vương phong tư hơn người, tài nghệ xuất chúng, nhất là cỡi ngựa bắn cung lại là sở trường, rất có uy đức, sức mạnh voi cũng chịu thua; đến khi thờ Lý Nam Đế (đồng thời với vua Lương Võ bên Tàu) vua trông thấy người khí vũ hiên ngang, thật là một bậc Đại trượng phu, có thể đương nổi một phương, mới bảo vương theo quân ngũ; Vương hằng lập được nhiều kỳ công.
Sau vua cho một cõi Đỗ Động là đất biên viễn hiểm trở, nếu không phải là tay Vương thì chẳng ai trị nổi, rồi phong cho Vương chức Đại tướng quân, bảo qua trấn thủ ở đó; mỗi khi có hiệu lệnh của Vương ra thời các kẻ hùng cứ trốn xa, giặc cướp đều đến đầu hàng, nhân dân được an cư lạc nghiệp, trong cõi yên ổn, già trẻ đều mến đội ân đức của Vương.
Kịp đến lúc nước Lâm Ấp (tức là Chiêm Thành) vào ăn cướp châu Cửu Đức, biên thư cáo cấp, triều đình bàn kế xuất chinh, các quan đều nói rằng:
-Không có quan Tướng quân Đỗ Động thì không thể đánh bại giặc ấy được.
Vua mới tuyên chiến triệu Vương thống suất các tướng lãnh đi đánh, đại phá quân Lâm Ấp ở Cửu Đức. Tin thắng trận về đến kinh đô, vua thán thưởng giây lâu rồi bảo quan thị thần rằng:
-Gặp đến rễ quanh đốt cứng mới biết được đồ dùng sắc, nay quan Đỗ Động tướng quân chỉ bắn vài mũi tên mà cả phá được giặc mạnh, thực là kẻ hào kiệt ở Sơn Tây, những bậc can thành đời xưa cũng chẳng lấy gì làm hơn được, nên phải có trọng thưởng mới xứng công lao.
Vua mới lục những công phục biên, tứ tính là họ Lý, gả một vị Công chúa tức là Lý Nương và thăng lên chức Thái Uý. Từ đấy ân sủng càng ngày càng thêm, lại khiến làm chức Tham hộ phủ nghi, giám thị cả trăm quan.
Quan Lý Thái uý thiên tư trung hậu, tính vốn thanh liêm, mỗi khi có kiến nghị điều gì thì chuyên lo ngay thẳng, ở trong triều nếu có ai lỗi, trước mặt thì bắt bẻ, giữa triều thì can gián chẳng dung tha một ai, cả đến những kẻ quyền quý xin vô việc riêng. Tiếng tăm lừng lẫy, trong ngoài đều gọi là Phục Man Tướng công, kính mến người có đức.
Lúc bấy giờ vua Nam Đế chủ tâm việc biên phòng, khiến quan Thiếu uý ra trấn Đường Lâm, binh quyền ở tay, uy lệnh xa khắp, làm lặng bụi trần sa mạc, làm tiêu tan lòng sợ hãi chiến tranh. Nào ngờ trời chán nghiệp nhà Lý, gió đưa binh nhà Lương đến, năm Ất Sửu thứ hai, Trần Bá Tiên đem binh đi đánh ở quận Châu Diên, sông Tô Lịch, lần lượt dẹp yên.
Năm Đinh Mão thứ tư (năm đầu vua Lương Văn Trị), binh nhà Lương thừa thắng, đi đến đâu là chỗ đó không có người. Vua tôi triều Lý đâu thất sắc, tan rã như ngói vỡ đất lở, chẳng biết tính làm sao, toan muốn triệu Thái uý.
Thái uý ở động Khuất Liêu, nghe được tin ấy, ngậm ngùi than thở, lòng trung kích thích, mới sai người cẩn thủ các nơi yếu hại của dinh đồn. Hốt nhiên, đang đêm lửa cháy đỏ rực cả bốn mặt, đầy đường binh Lương đã bức gần đến trước sân, mới hay lòng người nham hiểm, mệnh trời khôn lường. Vương bèn đem gia tướng đánh thoát vòng vây để tính bề khôi phục. Nhưng đất cùng đường xa, tới lui không ngõ, Thái uý đành phải chỉ trời vạch đất, thản nhiên uống thuốc tự tận.
Người nhà phụng linh cữu đưa về bến Hồ Mã (tức nay là chùa Ngọc Tân, tên sông của bản xã) chôn cất và đắp mộ ở ngoài bãi bản xã.
________
Ghi chú: Phần tiếm bình và phụ lục là bổ sung sau thời Lý Tế Xuyên.
Xét Sử ký Đỗ Thiên chép rằng: Vương họ Lý tên Phục Man. Vua Lý Thái Tổ đi tuần phương đến sông Sở Bộ Đầu, thấy giang sơn tú khí, phong cảnh thắng du, nhà vua tâm thần cảm hứng, mới rót ly rượu đổ xuống tràng giang, vái rằng:
-Trẫm xem chỗ này non xanh nước biếc khác hẳn mọi nơi, nếu có nhân kiệt u linh, xin hưởng.
Đêm ấy vua mộng thấy một dị nhân cao đại, mặt hổ râu rồng, y phục trang nghiêm, cân hài tề chỉnh, đến trước nhà vua cúi đầu lạy hai lạy mà tâu rằng:
-Thần vốn là người ở làng này, họ Lý tên Phục Man, giúp Lý Nam Đế làm Tướng quân, nhờ sự trung liệt được vua biết tên, mới sai trấn thủ hai giải sơn hà Đỗ Động và Đường Lâm, mọi Lào đều sợ không dám phạm biên, một phương yên ổn. Đến lúc chết, Thượng đế thương kẻ trung nên cho giữ chức như cũ. Nay thần xin kể một vài chuyện để Bệ hạ nghe thử. Thời vua Tương Vương nhà Đường, thần thường đem quỷ binh theo Khâu Hòa phá được nghịch tặc là Nịnh Tràng Chân ở cửa Giáp Sơn, thời vua Túc Tông lại phá được giặc Đại Thực Ba Tư ở cửa Thần Thạch, thời vua Đại Tông lại phá giặc Côn Lôn, Đồ Bà ở Chu Diên. Cao Vương phá nước Nam Chiếu; Ngô Tiên Chúa phá nước Nam Hán, vua Lê Đại Hành phá Tống binh, mỗi lần xuất binh chinh phạt, thần ở trên không đem quỷ binh ám trở, thảy đều có công. Thần lại thường thống suất quân binh quỷ thần, vâng theo mệnh Thiên đế phá giặc Chiêm Thành ở trấn Giáp Sơn. Đến khi thần mệnh một, u linh không tán, thôn dân kính mến, lại sợ không ai phòng thủ, mọi Lào đến cướp bóc, nhân đó lập đền thờ phụng; bởi vậy, thần thường phảng phất ở khoảng trời mây, phàm gặp khi có dụng binh, thần ở trên không ám hộ, nghịch lỗ nhập khấu thì đều hãn ngự được. Bấy giờ gặp Bệ hạ loan giá quang lâm, thần xin đến bái yết.
Nói đoạn, ngâm bốn câu thơ rằng:
Thiên hạ toàn mông muội
Hãy tạm ẩn thanh danh,
Giữa trời nêu nhật, nguyệt,
Quang diệu ấy chân hình.
Ngâm xong liền biến mất; vua chưa kịp đối đáp, hốt nhiên tỉnh dậy, nói lại với tả hữu; quan Ngự sử Đại Phu Lương Văn Nhậm nói:
-Đó là lời thần muốn hiển linh để lập hình tượng.
Vua sai người xin keo, quả nhiên lập ứng.
Vua sắc cho người trong châu lập đền thờ, tạc tượng thần y như đã trông thấy trong mộng, miếu mạo sum liệt, làm Phúc thần một phương.
Trong thời Nguyên Phong , Thát Đát nhập khấu, đến biên cảnh thì ngựa què không tiến được; thôn dân biết có sức thần ám trợ mới đem dân chúng ra cự chiến, chém được đầu giặc rất nhiều; giặc thua chạy tán loạn, không dám trở lại dòm dỏ bờ cõi nữa. Khấu tặc bình xong, sắc phong Chứng An Nam Quốc Công, chiếu cho thôn ấy đổi tên là Hộ Xá Chứng An.
Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu, giặc Bắc lại vào ăn cướp, mấy chỗ khác đều bị đốt cháy cả, duy có ấp này như có phòng hộ, một mảy lông mùa thu cũng không bị phạm tới.
Giặc bình xong, sắc phong Chứng An Vương, năm thứ tư gia phong hai chữ Minh Ứng, năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong hai chữ Tá Quốc, càng ngày càng thêm linh ứng vậy.
Tiếm bình
Cái khí tinh hoa của sông núi, kết lại hóa ra vàng ngọc châu báu, như ngọc bích ở Lam Điền, ngọc châu Dạ Quang, vốn là có tiếng quý giá xưa nay. Còn đến như con người cũng thế, thiện nhân quân tử là tinh hoa của cái khí ấy. Sông Sở Bộ Đầu, sơn kỳ thuỷ tú, người tài đất linh, Lý Tướng quân thực là vun đức ở đây, kịp đến lúc thờ vua Nam Đế làm Tướng quân, oai nghiêm làm rào ngăn cho hai xứ Đỗ Động và Đường Lâm. Thân cỡi đuôi sao Cơ, quanh vùng biết tiếng, cái khí anh sản thường tụ lại, cái công võ liệt thêm kỳ. Phá Trường Chân ở Giáp Sơn, giết Đồ Bà ở Châu Diên, bình nước Nam Chiếu, định nước Nam Hán, đuổi binh nhà Tống, Thần chắc không nói dối ta vậy.
Trong bài thơ, lời ý du dương, quý tính tôn danh, không muốn nói với thôn dân khách tục, dựng đền đúc tượng, dung mạo tôn nghiêm, kẻ chợ dân mường đều kính ngưỡng. Xem như rợ Thát Đát rất mạnh, mang cung đến đâu, tỉ dụ đến nhà Liêu Hạ, nhà Kim, nhà Tống các nước lớn ấy cũng đều trông gió mà xếp gươm giáo, huống chi chúng kéo sang Nam như gió cuốn mây ùn, sấm gào chớp nhoáng, thế mà ông lấy sức thần lui được binh giặc, khiến cho nhân dân được ăn yên ở yên như xưa. Ở chỗ bình nguyên hễ có công đức với dân thì được phụng sự, thế thì công đức của ông biết chừng nào vậy.
Miếu nay ở làng Cổ Sở huyện An Phụng, chế độ rất chỉnh, lễ bộ rực rỡ, mỗi năm lễ nghinh yết có xướng hát, làm một cảnh đại đô hội ở sông Hát Giang, triều trước đời nào dân cũng được tha thuế, đối với đền Phù Đổng, đền Bạch Đằng cùng ngang hàng nhau, rất là thịnh vượng.
Tục truyền rằng ông tiến sĩ làng Ninh Xá tên là Nguyễn Mại trấn tỉnh Sơn Tây thường phụng mạng đem lễ đến cúng, ngủ lại trong đền làng Cổ Sở, mộng thấy một người đàn bà đeo ngọc, mão vàng, áo gấm, giầy thêu, xiêm lụa, có cái dáng điệu hoa ghen nguyệt thẹn, cái nhan sắc mặt ngọc da hồng, tay cầm một nhánh hoa mai phe phẩy đến trước chỗ ngồi, gió thanh mát mặt, hương khí ngát người; người đàn bà ấy thưa rằng:
-Từ khi lang quân thiếp đi vắng, trướng hồ vắng vẻ một mình không người săn sóc, nay Tôn giả đến đây, đền thờ không lấy gì làm quang khiết. Sứ quân có lòng tốt, xin nhờ trùng tu lại cho.
Nguyễn Mại hỏi lại rằng:
-Vậy chớ lang quân tên họ là gì?
Nàng nói:
-Lang quân thiếp tên là Lý Tướng quân, kim sinh tức là ông tiến sĩ làng Thanh Mai tên là Lê Anh Tuấn, hiện nay đang đi sứ Tàu, xin trình Sứ quan rõ.
Hốt nhiên gió động lan can, Nguyễn Mại tỉnh dậy, thì ra là một giấc mộng kê vàng, mới đem câu chuyện trong mộng thuật lại cho người làng nghe, và bảo sửa sang đền thờ lại cho tử tế. Khi đi sứ về, Lê Anh Tuấn thường qua lại nhà Nguyễn Mại đi lại trò chuyện. Nguyễn Mại gọi người nhà đến chỉ Lê Anh Tuấn mà bảo rằng:
-Ông này là Chứng An Vương đền Cổ Sở đó.
Lê Công giỏi văn học, làm quan đến Thượng thư, quyền thế lừng lẫy. Tuy là chuyện mộng mị chưa dám tin chắc, nhưng qua lại thầm kín, đôi khi cũng hở mối manh. Ông Phạm Trọng Yêm với Đạo nhân Côn Lôn đời trước, ông Phú Bật với thầy chùa Xung Hư Quán cũng phảng phất giống như vậy.
Phụ lục:
Sự tích đền thờ thần xã An Sở
Xét Đại Việt Ngoại Sử chép rằng: Gia Thông Đại Vương vốn là người làng Cổ Sở (sau đổi ra An Sở). Lúc bấy giờ thiên hạ loạn ly, kẻ hào kiệt dấu họ dấu tên để tránh nạn.
Thưở nhỏ, Đại Vương phong tư hơn người, tài nghệ xuất chúng, nhất là cỡi ngựa bắn cung lại là sở trường, rất có uy đức, sức mạnh voi cũng chịu thua; đến khi thờ Lý Nam Đế (đồng thời với vua Lương Võ bên Tàu) vua trông thấy người khí vũ hiên ngang, thật là một bậc Đại trượng phu, có thể đương nổi một phương, mới bảo vương theo quân ngũ; Vương hằng lập được nhiều kỳ công.
Sau vua cho một cõi Đỗ Động là đất biên viễn hiểm trở, nếu không phải là tay Vương thì chẳng ai trị nổi, rồi phong cho Vương chức Đại tướng quân, bảo qua trấn thủ ở đó; mỗi khi có hiệu lệnh của Vương ra thời các kẻ hùng cứ trốn xa, giặc cướp đều đến đầu hàng, nhân dân được an cư lạc nghiệp, trong cõi yên ổn, già trẻ đều mến đội ân đức của Vương.
Kịp đến lúc nước Lâm Ấp (tức là Chiêm Thành) vào ăn cướp châu Cửu Đức, biên thư cáo cấp, triều đình bàn kế xuất chinh, các quan đều nói rằng:
-Không có quan Tướng quân Đỗ Động thì không thể đánh bại giặc ấy được.
Vua mới tuyên chiến triệu Vương thống suất các tướng lãnh đi đánh, đại phá quân Lâm Ấp ở Cửu Đức. Tin thắng trận về đến kinh đô, vua thán thưởng giây lâu rồi bảo quan thị thần rằng:
-Gặp đến rễ quanh đốt cứng mới biết được đồ dùng sắc, nay quan Đỗ Động tướng quân chỉ bắn vài mũi tên mà cả phá được giặc mạnh, thực là kẻ hào kiệt ở Sơn Tây, những bậc can thành đời xưa cũng chẳng lấy gì làm hơn được, nên phải có trọng thưởng mới xứng công lao.
Vua mới lục những công phục biên, tứ tính là họ Lý, gả một vị Công chúa tức là Lý Nương và thăng lên chức Thái Uý. Từ đấy ân sủng càng ngày càng thêm, lại khiến làm chức Tham hộ phủ nghi, giám thị cả trăm quan.
Quan Lý Thái uý thiên tư trung hậu, tính vốn thanh liêm, mỗi khi có kiến nghị điều gì thì chuyên lo ngay thẳng, ở trong triều nếu có ai lỗi, trước mặt thì bắt bẻ, giữa triều thì can gián chẳng dung tha một ai, cả đến những kẻ quyền quý xin vô việc riêng. Tiếng tăm lừng lẫy, trong ngoài đều gọi là Phục Man Tướng công, kính mến người có đức.
Lúc bấy giờ vua Nam Đế chủ tâm việc biên phòng, khiến quan Thiếu uý ra trấn Đường Lâm, binh quyền ở tay, uy lệnh xa khắp, làm lặng bụi trần sa mạc, làm tiêu tan lòng sợ hãi chiến tranh. Nào ngờ trời chán nghiệp nhà Lý, gió đưa binh nhà Lương đến, năm Ất Sửu thứ hai, Trần Bá Tiên đem binh đi đánh ở quận Châu Diên, sông Tô Lịch, lần lượt dẹp yên.
Năm Đinh Mão thứ tư (năm đầu vua Lương Văn Trị), binh nhà Lương thừa thắng, đi đến đâu là chỗ đó không có người. Vua tôi triều Lý đâu thất sắc, tan rã như ngói vỡ đất lở, chẳng biết tính làm sao, toan muốn triệu Thái uý.
Thái uý ở động Khuất Liêu, nghe được tin ấy, ngậm ngùi than thở, lòng trung kích thích, mới sai người cẩn thủ các nơi yếu hại của dinh đồn. Hốt nhiên, đang đêm lửa cháy đỏ rực cả bốn mặt, đầy đường binh Lương đã bức gần đến trước sân, mới hay lòng người nham hiểm, mệnh trời khôn lường. Vương bèn đem gia tướng đánh thoát vòng vây để tính bề khôi phục. Nhưng đất cùng đường xa, tới lui không ngõ, Thái uý đành phải chỉ trời vạch đất, thản nhiên uống thuốc tự tận.
Người nhà phụng linh cữu đưa về bến Hồ Mã (tức nay là chùa Ngọc Tân, tên sông của bản xã) chôn cất và đắp mộ ở ngoài bãi bản xã.
________
Ghi chú: Phần tiếm bình và phụ lục là bổ sung sau thời Lý Tế Xuyên.
LÝ PHỤC MAN XUẤT HIỆN LẦN ĐẦU TIÊN TRONG MỘNG CỦA LÝ THÁI TỔ
Theo Đại Việt sử ký toàn thư trang 84 (bản ebook)
Bính Thìn, [Thuận Thiên] năm thứ 7 [1016], (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 3, lại lập 3 hoàng hậu: Tá Quốc hoàng hậu, Lập Nguyên hoàng hậu, Lập Giáo hoàng hậu, Độ cho hơn nghìn người ở kinh sư làm tăng đạo. Dựng hai chùa Thiên Quang, Thiên Đức và tô bốn pho tượng Thiên Đế.
Động đất. Làm lễ tế vong các danh sơn. Vua nhân đi xem núi sông, đến bến đò Cổ Sở , thấy khí tốt của núi sông, tâm thần cảm động, bèn làm lễ rưới rượu xuống đất, khấn rằng: “Trẫm xem địa phương này, núi lạ sông đẹp, nếu có nhân kiệt địa linh thì hưởng lễ”.
Đêm ấy, vua chiêm bao thấy có dị nhân đến cúi đầu lạy hai lạy, nói: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục Man, làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm, bọn Di Lão không dám xâm phạm biên giới, một phương yên bình. Đến khi chết, thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ. Cho nên phàm giặc Man Di đến cướp đều chống giữ được cả. Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi”. Rồi đó thung dung nói: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình” . Vua thức dậy nói việc ấy với Ngự sử đại phu Lương Nhậm Văn rằng: “Đó là ý thần muốn tạc tượng”. Vua sai bói xin âm dương, quả nhiên đúng như thế. Bèn sai người trong châu [8a] lập đền đắp tượng đúng như hình dạng người trong chiêm bao, tuế thời cúng tế. Khoảng niên hiệu Nguyên Phong [1251-1258] đời Trần, người Thát Đát vào cướp, đi đến địa phương này, ngựa khuỵu chân không đi được, người trong thôn dẫn dân chúng ra chống đánh, chém được đầu giặc, giặc chạy tan. Khoảng năm Trùng Hưng [1285-1293], [Thát Đát] lại vào cướp, đến đâu cũng đốt phá, mà ấp ấy vẫn như được che chở, không bị xâm phạm mảy may, quả đúng như lời thần nói.
Bính Thìn, [Thuận Thiên] năm thứ 7 [1016], (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 3, lại lập 3 hoàng hậu: Tá Quốc hoàng hậu, Lập Nguyên hoàng hậu, Lập Giáo hoàng hậu, Độ cho hơn nghìn người ở kinh sư làm tăng đạo. Dựng hai chùa Thiên Quang, Thiên Đức và tô bốn pho tượng Thiên Đế.
Động đất. Làm lễ tế vong các danh sơn. Vua nhân đi xem núi sông, đến bến đò Cổ Sở , thấy khí tốt của núi sông, tâm thần cảm động, bèn làm lễ rưới rượu xuống đất, khấn rằng: “Trẫm xem địa phương này, núi lạ sông đẹp, nếu có nhân kiệt địa linh thì hưởng lễ”.
Đêm ấy, vua chiêm bao thấy có dị nhân đến cúi đầu lạy hai lạy, nói: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục Man, làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm, bọn Di Lão không dám xâm phạm biên giới, một phương yên bình. Đến khi chết, thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ. Cho nên phàm giặc Man Di đến cướp đều chống giữ được cả. Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi”. Rồi đó thung dung nói: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình” . Vua thức dậy nói việc ấy với Ngự sử đại phu Lương Nhậm Văn rằng: “Đó là ý thần muốn tạc tượng”. Vua sai bói xin âm dương, quả nhiên đúng như thế. Bèn sai người trong châu [8a] lập đền đắp tượng đúng như hình dạng người trong chiêm bao, tuế thời cúng tế. Khoảng niên hiệu Nguyên Phong [1251-1258] đời Trần, người Thát Đát vào cướp, đi đến địa phương này, ngựa khuỵu chân không đi được, người trong thôn dẫn dân chúng ra chống đánh, chém được đầu giặc, giặc chạy tan. Khoảng năm Trùng Hưng [1285-1293], [Thát Đát] lại vào cướp, đến đâu cũng đốt phá, mà ấp ấy vẫn như được che chở, không bị xâm phạm mảy may, quả đúng như lời thần nói.
LÝ PHỤC MAN – NGƯỜI CON QUANG VINH CỦA LÀNG GIÁ
Nguyễn Khắc Đạm
Đi đường Hà Nội lên Sơn Tây đến Trạm Trôi, một trạm chạy thư cũ của thời phong kiến, rồi rẽ sang trái theo con đường rải đá độ bốn cây số, người ta thấy dưới chân đê sông Đáy một làng lớn trồng rất nhiều dừa. Thật là một sự đặc biệt của cảnh vật miền Bắc vì rất ít nơi lại trồng dừa một cách phổ biến đến như vậy. Trong vườn, bên đường đi ngang dọc trong làng, đâu đâu người ta cũng trông thấy những cây dừa cao vút, trĩu quả. Đó là làng có tên tục là Giá, tên chữ là Yên Sở và trước đó từ đời nhà Trần có tên là Cổ Sở.
Làng Giá không những chỉ nổi bật lên vì dừa trồng chi chít mà còn nổi tiếng vì một ngôi đình vào loại to nhất và đẹp nhất ở nước ta. Đình chiếm một diện tích rất lớn rộng 52 mét, dài 120 mét. Ít nơi trên đất nước ta lại có một ngôi đình quy mô lớn đến như vậy. Từ ngoài vào đình, sau khi đi qua một sân cỏ rộng giữa lát gạch, ta bắt gặp một dãy tường hoa với hai cột trụ lớn được trang trí bằng hình rồng đắp nổi và hình bốn con phượng cong đuôi tạo thành một bông hoa duyên dáng ở trên đầu trụ. Qua hai cột trụ và sân cỏ thứ hai, ta tới cửa tam quan, hai bên có hai bức tường được trang trí một cách hết sức độc đáo bằng một diềm gạch nung đỏ (22 hòn trên tường bên đông và 26 hòn trên tường bên tây) với những hình đúc người đi cày, người kéo lưới, người cưỡi voi, người học trò và những hình rồng, voi, sư tử, phượng, khỉ, hoa, lá… Toàn bộ những hình kế tiếp nhau đó cộng với câu thơ:
Đại đạo sinh tài, tài ích thịnh
Tiên sư giáng phúc, phúc thường lai
Dịch nghĩa:
Đạo lớn sinh ra của cải, của cải ngày càng thịnh
Thần thánh (bậc thầy ngày xưa) ban phúc, phúc thường đến
có vẻ như là một bộ tranh truyện mà ngày nay người ta thực khó mà đọc được hết ý nghĩa.
Qua tam quan thì tới một cái sân cỏ thứ ba, hai bên có dãy hành lang dài mỗi dãy chia 11 gian. Tiếp đó là một cái sân nền cao hẳn lên, xây toàn gạch rồi đến tổng thể đình kế tiếp nhau gồm có: đình Hạ, đình Trung, đình Thượng. Hai con rồng chầu mặt trời được gắn trên nóc đình Hạ. Một con ngựa bằng đồng đúc năm 1707 đặt trên bệ có bánh xe được đặt trong một phòng nhỏ ở phía đông đình Trung, còn 5 tấm bia đá thì được đặt ở một phòng nhỏ khác ở phía tây. Trong đình Thượng có tới 5 pho tượng: một tượng nam thần với hai tượng nữ thần nhỏ hơn ở hai bên, và hai tượng thị nữ ở phía trước. Trong đình Trung thì ngoài các đồ thờ còn có hai pho tượng võ tướng nữa.
Toàn bộ cảnh đình được tăng thêm phần uy nghi bằng cây cối um tùm bao bọc cả ba phía: trái, phải và sau. Từ đình nhìn sang bên kia sông Đáy là núi Thầy (Sài Sơn), núi Cánh Phượng… thanh tú nổi bật lên giữa cánh đồng lúa bao la.
Ngôi đình bề thế và tuyệt đẹp này là nơi thờ Lý Phục Man. Tượng nam thần ở đình Thượng chính là Lý Phục Man, còn hai vị nữ thần ngồi hai bên là hai vợ ông: Lý Nương, vợ cả, ở bên trái, và Á Nương, vợ hai, ở bên phải. Lý Phục Man chính quê ở làng Yên Sở. Hiện nay trong làng còn có nơi, theo tục truyền, là nền nhà xưa của Lý Phục Man. Năm 541, ông đã tham gia nghĩa quân của Lý Bôn nổi lên chống ách thống trị của nhà Lương, giành lại độc lập cho nước nhà. Theo văn bia do Lý Tuấn Ngạn soạn ra trong thế kỷ 18 cũng như theo truyền thuyết địa phương, người ta biết rằng, thời niên thiếu, Lý Phục Man võ nghệ hơn người, cưỡi ngựa bắn cung đều giỏi lại có tài hàng phục được cả voi. Ông tham gia nghĩa quân Lý Bôn ngay từ thời kỳ đầu của phong trào và đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Vì thế, trong triều đình Vạn Xuân, ông đã được phong làm Đại tướng quân, đứng đầu trăm quan và đặc nhiệm các miền Đường Lâm và Đỗ Động (tức là vùng từ huyện Phúc Thọ đến Thanh Oai ngày nay). Ông trị dân nghiêm minh lại cầm quân giỏi nên nhân dân vùng ông cai quản đều được yên ổn và người Di, người Lão, trước kia vẫn hay xâm nhập quấy nhiễu địa phương, đều phải lánh xa. Năm 543, do nhà Lương xúi giục, quân Lâm Ấp xâm nhập vào biên giới nước Vạn Xuân, đánh phá các quận Nhật Nam, Cửu Đức (tức vùng Thanh Nghệ Tĩnh ngày nay). Lý Phục Man được cử đi đánh giặc, thắng nhiều trận, bảo vệ được chắc chắn biên giới phía nam của Tổ quốc. Để thưởng công, Lý Bôn đã gả con gái cho ông, ban cho ông họ Lý là họ nhà vua và phong cho ông tước hiệu là Phục Man (hàng phục được người Man). Cái tên Lý Phục Man xuất hiện từ đấy. Có điều là cái tên này đã được người ta dùng đến một cách tuyệt đối khiến cho ngày nay chúng ta khó mà biết được họ tên thật của ông là gì.
Nghi vấn cũng bao trùm lên cái chết của ông. Có thuyết nói rằng trong một trận đánh nhau với quân Lâm Ấp, ông bị giặc bao vây nên tự sát và quân sĩ đã đem thi hài ông về chôn ở dưới ao sen trong rừng ở sau đình Yên Sở. Có thuyết nói ông bị quân Lâm Ấp đánh thua, bị thương nặng, nhưng vẫn cố chạy về đến tận quê nhà rồi mới ngã ngựa. Theo truyền thuyết, nơi ông ngã ngựa là một viên đá lớn hiện còn nằm tại giữa đồng Yên Sở, còn có dấu vết chân ngựa và đầu ông. Nhưng thuyết thứ hai này lại khiến cho người ta có thể nghĩ rằng Lý Phục Man không phải bị quân Lâm Ấp đánh thua vì ông không thể từ vùng Thanh Nghệ mang trọng thương chạy về cho đến tận quê nhà. Hợp lý hơn cả là sau khi dẹp xong quân Lâm Ấp, ông lại trở ra Bắc chống đánh quân Trần Bá Tiên và trong một trận nào đó, có thể xảy ra ở gần quê ông, ông đã bị thương nặng, sau đó mở đường máu cố chạy về tới cánh đồng quê hương rồi mới ngã ngựa chết.
Đình Yên Sở, nơi thờ Lý Phục Man, vẫn được nhân dân địa phương gọi là quán với hàm ý là ngoài ngôi quán này còn có ngôi đình nữa thờ ông như tục thờ thần ở tất cả các làng Việt Nam khác. Đúng thế, Yên Sở trước kia có cả đình lẫn quán. Ngày thường, bài vị thần vẫn được để ở quán. Đến ngày hội tế thần hàng năm, bài vị thần mới được rước từ quán sang đình và cho đến khi tế lễ xong thì lại được rước từ đình về quán. Nhưng đến một thời kỳ nào đó, Yên Sở, do dân số phát triển, đã được tách ra làm hai xã Yên Sở và Đắc Sở. Đình ở vào địa phận Đắc Sở, quán ở vào địa phận Yên Sở. Nhưng hai làng Yên Sở và Đắc Sở vẫn cùng thờ chung một vị thần nên không thay đổi gì tình trạng cũ và trong những ngày hội tế thần hàng năm cả hai làng đều cùng đứng ra tổ chức theo đúng như nghi thức cũ và có khi bỏ cả lệ rước bài vị để tổ chức tế lễ ở ngay quán Yên Sở.
Xưa kia, bến Yên Sở còn được gọi là bến Hồ Mã. Đó là một bến sông quan trọng trên sông Đáy thời phong kiến. Ở đây có phố chợ buôn bán đông vui. Đó cũng là một trạm dừng chân của các vua chúa đi tuần du xưa kia. Sách Đại Nam nhất thống chí chép rằng: Lý Thái Tổ đã có lần dừng chân tại đây và sau khi biết rõ sự tích Lý Phục Man, đã ra lệnh cho nhân dân địa phương làm đền thờ và dựng tượng Lý Phục Man theo như hình nhà vua mơ thấy trong khi nằm mộng. Đến đời Trần Thái Tông, nhà vua cũng có lần dừng chân tại Yên Sở và cũng có cho mở rộng thêm đình.
Điều đặc biệt đáng chú ý là Lý Phục Man tuy cho đến nay vẫn chưa ai biết được rõ tên họ thật là gì, tuy không được ghi tên trong các pho chính sử nhưng đã được thờ ở nhiều nơi trên đất ba tỉnh Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh và Hải Hưng.
Ở những nơi thờ Lý Phục Man nói chung người ta thường kiêng tên Man và nói chệch ra là Miêng hay Men. Như mắng ai là “man trá” người ta nói “đồ men trá”.
Đặc biệt là dân làng Yên Sở, quê hương của Lý Phục Man đã được nhiều lần các vua chúa trước kia miễn cho việc đi phu đắp đê làm đường và giảm cho một phần thuế để có thể tập trung tiền của và công sức vào việc thờ Lý Phục Man. Hẳn cũng vì thế nên Yên Sở đã có khả năng không những xây dựng được một ngôi quán vĩ đại mà còn xây dựng được một ngôi đình bảy gian với đặc điểm là không có xà dọc nối các gian lại với nhau, với quy mô cũng to tát vào bậc nhất trong các đình cổ ở nước ta. Nhưng chính vì được các vua chúa trước kia ban cho một số đặc quyền, đặc lợi như vậy, nên việc tổ chức tế lễ hội hè trước kia đã bị kéo dài rất lâu, nhiều khi tới một tháng (từ mồng 10 tháng 3 đến mồng 10 tháng 4 âm lịch) gây ra rất nhiều tốn kém và hao phí sức lao động của dân làng.
Trong thời kỳ tạm chiếm, giặc Pháp đã tàn phá làng Yên Sở và Đắc Sở. Ngôi đình bảy gian không xà ở Đắc Sở, một công trình kiến trúc tuyệt tác, đã bị đốt trụi, ngày nay không còn để lại được dấu vết gì. Quán Yên Sở thì phần quan trọng nhất, mỹ thuật nhất là tam quan, đình Hạ, đình Trung, đình Thượng cũng bị đốt trụi. Cho đến năm 1949 dân làng mới lại phục hồi được đình Thượng như kiểu thức cũ, còn đình Trung và đình Hạ thì chỉ phục hồi được một cách tạm thời. Tuy quán Yên Sở đã bị giặc Pháp tàn phá nặng nề, tuy khu rừng bao quanh quán đã mất đi vẻ thâm nghiêm, nhưng nhìn về toàn bộ thì quán làng Yên Sở vẫn còn là một tích lịch sử đẹp, có tính hấp dẫn đối với du khách tham quan vì còn có những pho tượng nguyên vẹn cũng như nhà ngựa đồng, nhà bia đá, nên đáng được bảo lưu một cách đúng mức.
Theo Danh nhân quê hương, Ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình, 1976
Đi đường Hà Nội lên Sơn Tây đến Trạm Trôi, một trạm chạy thư cũ của thời phong kiến, rồi rẽ sang trái theo con đường rải đá độ bốn cây số, người ta thấy dưới chân đê sông Đáy một làng lớn trồng rất nhiều dừa. Thật là một sự đặc biệt của cảnh vật miền Bắc vì rất ít nơi lại trồng dừa một cách phổ biến đến như vậy. Trong vườn, bên đường đi ngang dọc trong làng, đâu đâu người ta cũng trông thấy những cây dừa cao vút, trĩu quả. Đó là làng có tên tục là Giá, tên chữ là Yên Sở và trước đó từ đời nhà Trần có tên là Cổ Sở.
Làng Giá không những chỉ nổi bật lên vì dừa trồng chi chít mà còn nổi tiếng vì một ngôi đình vào loại to nhất và đẹp nhất ở nước ta. Đình chiếm một diện tích rất lớn rộng 52 mét, dài 120 mét. Ít nơi trên đất nước ta lại có một ngôi đình quy mô lớn đến như vậy. Từ ngoài vào đình, sau khi đi qua một sân cỏ rộng giữa lát gạch, ta bắt gặp một dãy tường hoa với hai cột trụ lớn được trang trí bằng hình rồng đắp nổi và hình bốn con phượng cong đuôi tạo thành một bông hoa duyên dáng ở trên đầu trụ. Qua hai cột trụ và sân cỏ thứ hai, ta tới cửa tam quan, hai bên có hai bức tường được trang trí một cách hết sức độc đáo bằng một diềm gạch nung đỏ (22 hòn trên tường bên đông và 26 hòn trên tường bên tây) với những hình đúc người đi cày, người kéo lưới, người cưỡi voi, người học trò và những hình rồng, voi, sư tử, phượng, khỉ, hoa, lá… Toàn bộ những hình kế tiếp nhau đó cộng với câu thơ:
Đại đạo sinh tài, tài ích thịnh
Tiên sư giáng phúc, phúc thường lai
Dịch nghĩa:
Đạo lớn sinh ra của cải, của cải ngày càng thịnh
Thần thánh (bậc thầy ngày xưa) ban phúc, phúc thường đến
có vẻ như là một bộ tranh truyện mà ngày nay người ta thực khó mà đọc được hết ý nghĩa.
Qua tam quan thì tới một cái sân cỏ thứ ba, hai bên có dãy hành lang dài mỗi dãy chia 11 gian. Tiếp đó là một cái sân nền cao hẳn lên, xây toàn gạch rồi đến tổng thể đình kế tiếp nhau gồm có: đình Hạ, đình Trung, đình Thượng. Hai con rồng chầu mặt trời được gắn trên nóc đình Hạ. Một con ngựa bằng đồng đúc năm 1707 đặt trên bệ có bánh xe được đặt trong một phòng nhỏ ở phía đông đình Trung, còn 5 tấm bia đá thì được đặt ở một phòng nhỏ khác ở phía tây. Trong đình Thượng có tới 5 pho tượng: một tượng nam thần với hai tượng nữ thần nhỏ hơn ở hai bên, và hai tượng thị nữ ở phía trước. Trong đình Trung thì ngoài các đồ thờ còn có hai pho tượng võ tướng nữa.
Toàn bộ cảnh đình được tăng thêm phần uy nghi bằng cây cối um tùm bao bọc cả ba phía: trái, phải và sau. Từ đình nhìn sang bên kia sông Đáy là núi Thầy (Sài Sơn), núi Cánh Phượng… thanh tú nổi bật lên giữa cánh đồng lúa bao la.
Ngôi đình bề thế và tuyệt đẹp này là nơi thờ Lý Phục Man. Tượng nam thần ở đình Thượng chính là Lý Phục Man, còn hai vị nữ thần ngồi hai bên là hai vợ ông: Lý Nương, vợ cả, ở bên trái, và Á Nương, vợ hai, ở bên phải. Lý Phục Man chính quê ở làng Yên Sở. Hiện nay trong làng còn có nơi, theo tục truyền, là nền nhà xưa của Lý Phục Man. Năm 541, ông đã tham gia nghĩa quân của Lý Bôn nổi lên chống ách thống trị của nhà Lương, giành lại độc lập cho nước nhà. Theo văn bia do Lý Tuấn Ngạn soạn ra trong thế kỷ 18 cũng như theo truyền thuyết địa phương, người ta biết rằng, thời niên thiếu, Lý Phục Man võ nghệ hơn người, cưỡi ngựa bắn cung đều giỏi lại có tài hàng phục được cả voi. Ông tham gia nghĩa quân Lý Bôn ngay từ thời kỳ đầu của phong trào và đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Vì thế, trong triều đình Vạn Xuân, ông đã được phong làm Đại tướng quân, đứng đầu trăm quan và đặc nhiệm các miền Đường Lâm và Đỗ Động (tức là vùng từ huyện Phúc Thọ đến Thanh Oai ngày nay). Ông trị dân nghiêm minh lại cầm quân giỏi nên nhân dân vùng ông cai quản đều được yên ổn và người Di, người Lão, trước kia vẫn hay xâm nhập quấy nhiễu địa phương, đều phải lánh xa. Năm 543, do nhà Lương xúi giục, quân Lâm Ấp xâm nhập vào biên giới nước Vạn Xuân, đánh phá các quận Nhật Nam, Cửu Đức (tức vùng Thanh Nghệ Tĩnh ngày nay). Lý Phục Man được cử đi đánh giặc, thắng nhiều trận, bảo vệ được chắc chắn biên giới phía nam của Tổ quốc. Để thưởng công, Lý Bôn đã gả con gái cho ông, ban cho ông họ Lý là họ nhà vua và phong cho ông tước hiệu là Phục Man (hàng phục được người Man). Cái tên Lý Phục Man xuất hiện từ đấy. Có điều là cái tên này đã được người ta dùng đến một cách tuyệt đối khiến cho ngày nay chúng ta khó mà biết được họ tên thật của ông là gì.
Nghi vấn cũng bao trùm lên cái chết của ông. Có thuyết nói rằng trong một trận đánh nhau với quân Lâm Ấp, ông bị giặc bao vây nên tự sát và quân sĩ đã đem thi hài ông về chôn ở dưới ao sen trong rừng ở sau đình Yên Sở. Có thuyết nói ông bị quân Lâm Ấp đánh thua, bị thương nặng, nhưng vẫn cố chạy về đến tận quê nhà rồi mới ngã ngựa. Theo truyền thuyết, nơi ông ngã ngựa là một viên đá lớn hiện còn nằm tại giữa đồng Yên Sở, còn có dấu vết chân ngựa và đầu ông. Nhưng thuyết thứ hai này lại khiến cho người ta có thể nghĩ rằng Lý Phục Man không phải bị quân Lâm Ấp đánh thua vì ông không thể từ vùng Thanh Nghệ mang trọng thương chạy về cho đến tận quê nhà. Hợp lý hơn cả là sau khi dẹp xong quân Lâm Ấp, ông lại trở ra Bắc chống đánh quân Trần Bá Tiên và trong một trận nào đó, có thể xảy ra ở gần quê ông, ông đã bị thương nặng, sau đó mở đường máu cố chạy về tới cánh đồng quê hương rồi mới ngã ngựa chết.
Đình Yên Sở, nơi thờ Lý Phục Man, vẫn được nhân dân địa phương gọi là quán với hàm ý là ngoài ngôi quán này còn có ngôi đình nữa thờ ông như tục thờ thần ở tất cả các làng Việt Nam khác. Đúng thế, Yên Sở trước kia có cả đình lẫn quán. Ngày thường, bài vị thần vẫn được để ở quán. Đến ngày hội tế thần hàng năm, bài vị thần mới được rước từ quán sang đình và cho đến khi tế lễ xong thì lại được rước từ đình về quán. Nhưng đến một thời kỳ nào đó, Yên Sở, do dân số phát triển, đã được tách ra làm hai xã Yên Sở và Đắc Sở. Đình ở vào địa phận Đắc Sở, quán ở vào địa phận Yên Sở. Nhưng hai làng Yên Sở và Đắc Sở vẫn cùng thờ chung một vị thần nên không thay đổi gì tình trạng cũ và trong những ngày hội tế thần hàng năm cả hai làng đều cùng đứng ra tổ chức theo đúng như nghi thức cũ và có khi bỏ cả lệ rước bài vị để tổ chức tế lễ ở ngay quán Yên Sở.
Xưa kia, bến Yên Sở còn được gọi là bến Hồ Mã. Đó là một bến sông quan trọng trên sông Đáy thời phong kiến. Ở đây có phố chợ buôn bán đông vui. Đó cũng là một trạm dừng chân của các vua chúa đi tuần du xưa kia. Sách Đại Nam nhất thống chí chép rằng: Lý Thái Tổ đã có lần dừng chân tại đây và sau khi biết rõ sự tích Lý Phục Man, đã ra lệnh cho nhân dân địa phương làm đền thờ và dựng tượng Lý Phục Man theo như hình nhà vua mơ thấy trong khi nằm mộng. Đến đời Trần Thái Tông, nhà vua cũng có lần dừng chân tại Yên Sở và cũng có cho mở rộng thêm đình.
Điều đặc biệt đáng chú ý là Lý Phục Man tuy cho đến nay vẫn chưa ai biết được rõ tên họ thật là gì, tuy không được ghi tên trong các pho chính sử nhưng đã được thờ ở nhiều nơi trên đất ba tỉnh Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh và Hải Hưng.
Ở những nơi thờ Lý Phục Man nói chung người ta thường kiêng tên Man và nói chệch ra là Miêng hay Men. Như mắng ai là “man trá” người ta nói “đồ men trá”.
Đặc biệt là dân làng Yên Sở, quê hương của Lý Phục Man đã được nhiều lần các vua chúa trước kia miễn cho việc đi phu đắp đê làm đường và giảm cho một phần thuế để có thể tập trung tiền của và công sức vào việc thờ Lý Phục Man. Hẳn cũng vì thế nên Yên Sở đã có khả năng không những xây dựng được một ngôi quán vĩ đại mà còn xây dựng được một ngôi đình bảy gian với đặc điểm là không có xà dọc nối các gian lại với nhau, với quy mô cũng to tát vào bậc nhất trong các đình cổ ở nước ta. Nhưng chính vì được các vua chúa trước kia ban cho một số đặc quyền, đặc lợi như vậy, nên việc tổ chức tế lễ hội hè trước kia đã bị kéo dài rất lâu, nhiều khi tới một tháng (từ mồng 10 tháng 3 đến mồng 10 tháng 4 âm lịch) gây ra rất nhiều tốn kém và hao phí sức lao động của dân làng.
Trong thời kỳ tạm chiếm, giặc Pháp đã tàn phá làng Yên Sở và Đắc Sở. Ngôi đình bảy gian không xà ở Đắc Sở, một công trình kiến trúc tuyệt tác, đã bị đốt trụi, ngày nay không còn để lại được dấu vết gì. Quán Yên Sở thì phần quan trọng nhất, mỹ thuật nhất là tam quan, đình Hạ, đình Trung, đình Thượng cũng bị đốt trụi. Cho đến năm 1949 dân làng mới lại phục hồi được đình Thượng như kiểu thức cũ, còn đình Trung và đình Hạ thì chỉ phục hồi được một cách tạm thời. Tuy quán Yên Sở đã bị giặc Pháp tàn phá nặng nề, tuy khu rừng bao quanh quán đã mất đi vẻ thâm nghiêm, nhưng nhìn về toàn bộ thì quán làng Yên Sở vẫn còn là một tích lịch sử đẹp, có tính hấp dẫn đối với du khách tham quan vì còn có những pho tượng nguyên vẹn cũng như nhà ngựa đồng, nhà bia đá, nên đáng được bảo lưu một cách đúng mức.
Theo Danh nhân quê hương, Ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình, 1976
QUÁN GIÁ VÀ TƯỚNG LÝ PHỤC MAN
Triệu Chinh Hiểu
KTĐT-Xã Yên Sở (huyện Hoài Đức) có tên nôm là Giá Lụa hoặc Giá. Làng Giá trồng rất nhiều cây dừa nên còn gọi là “làng Dừa” và tương truyền đây là một sở đồn điền ngày xưa có người Chiêm Thành (Chăm pa) sinh sống.
Quán Giá là đền thờ chung của hai xã Yên Sở và Đắc Sở. Quán ở đây có nghĩa là nơi thờ thành hoàng làng, không phải nơi thờ tự của Đạo giáo.
Quán Giá thờ Lý Phục Man, một danh tướng của Lý Bí, sống ở thế kỷ thứ VI, quê ông ở làng Cổ Sở (huyện Hoài Đức), không rõ họ tên thật. Tương truyền ông giỏi võ nghệ, theo Lý Bí khởi nghĩa chống quân Lương (Trung Hoa) xâm chiếm nước ta, lập nhiều chiến công. Nhà Tiền Lý (544-555) thành lập, ông được cử trông coi vùng đất phía Nam, đánh tan cuộc xâm lấn của Chăm pa. Sau đó, ông kết hôn với công chúa Lý Nương, vua ban cho ông họ Lý và chức thiếu úy, gọi là tướng quân Lý Phục Man. Ông trở về quản lĩnh vùng đất Đỗ Động, Đường Lâm. Nhà Lương lại đưa quân sang xâm lược nước Vạn Xuân. Ông chỉ huy quân sĩ đánh giặc và hi sinh ở chiến trường. Thương nhớ và biết ơn ông, nhân dân ở nhiều nơi như Yên Sở (Hoài Đức), Xuân Đỉnh (Từ Liêm)… dựng đền, đình thờ Lý Phục Man.
Năm 1947, giặc Pháp đã đốt phá gần hết Quán Giá, chỉ còn lại hai tam quan, ba bức tường và hậu cung. Sau này, trên nền cũ, nhân dân địa phương đã dựng lại cả ba nhà đại đình, trung đình và thượng điện, tuy có nhỏ hơn trước song vẫn bảo đảm sự thờ cúng trang nghiêm. Tòa thượng điện vẫn còn bức tường hồi xây từ thời Nguyễn có các ô hình trang trí và cột trụ phía trước có đắp nghê trên đỉnh cột như một sự kiểm soát người vào quán lễ thánh. Bên cạnh khu đền chính, phía hồi phải có nhà bia và nhà ở của tuần canh (thời xưa), phía hồi trái có dãy nhà để ngựa và nhà bếp phục vụ cho sinh hoạt lễ hội. Lại thêm vườn hoa, cây cảnh, hòn non bộ ở đằng sau, tạo thành một cảnh quan cổ kính, trang nhã.
Riêng về hai tam quan, cái ngoài cách cái trong 20 mét, được các nhà nghiên cứu coi là trường hợp duy nhất trong cấu trúc đình đền ở nước ta. Trên tam quan thứ hai có gắn 49 mảnh đất nung được trang trí. Ở hai bức tường liền với hai cột trụ lớn có những viên gạch rất đặc biệt. Tường phía đông có 23 viên, tường phía tây có 26 viên. Đó là những viên gạch nung, vuông, có đường chỉ viền xung quanh, giữa là những hình nổi, không hình nào giống hình nào, tạo thành một bức tranh sống động. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thì coi đó là những cảnh sinh hoạt: người đang dong trâu cày ruộng, cô gái tắm ở ao sen, người cưỡi voi, người cưỡi ngựa, người gánh củi, hai người đánh cờ, người bơi thuyền đánh cá, mấy chú bé chăn trâu đùa nghịch… Các nhà nghiên cứu Phật giáo thì lại coi đó là những tích trong Phật thoại: cảnh hươu và mặt trời (hay hoa) là minh họa cảnh Phật Thích ca thuyết pháp lần đầu ở Lộc Uyển, cảnh ao sen có người tắm là miêu tả cảnh Phật tắm trước khi lên ngồi dưới gốc cây bồ đề, cảnh voi và hai người ngã vật là cảnh voi điên ở Rajagrha…
Trong Quán Giá may mắn còn tượng Lý Phục Man (không bị giặc Pháp phá hủy) ở giữa và tượng hai bà Phương Dung và Ả Nương ở hai bên, cùng bốn pho tượng đứng là các thị nữ, hộ sĩ. Ba pho tượng chính được tạo tác rất cẩn thận, ứng với ba ngai thờ, được chạm khắc tỉ mỉ, tỉa tót kỹ lưỡng. Cũng trang trọng như ngai thờ là hai hương án và một cỗ kiệu. Lại có một con ngựa to bằng đồng, bên ngoài phủ lớp sơn.
Nếu những di vật trên chỉ có thể biết niên đại tương đối khoảng thế kỷ XIX thì năm tấm bia đá lại cho biết niên đại tuyệt đối sớm hơn, thuộc các năm 1620, 1671, 1681, 1728 và 1803. Chính các bài văn bia này đã nói rõ thế đất địa linh sinh ra nhân kiệt, ca ngợi sự nghiệp của Lý Phục Man. Theo văn bia, thời Lý đã dựng Quán Giá, tạc tượng, thời Trần mở rộng đền (quán) và gia phong mỹ hiệu, thời Lê Trung hưng nhiều lần ban sắc, xây tam quan, nghi môn, thềm đá. Đến thời Nguyễn làm máng đồng, các hoành phi, câu đối…
Hàng năm, nhân dân vùng Giá (gồm 3 xã Yên Sở, Đắc Sở và Tiên Yên của huyện Hoài Đức) mở hội từ ngày 10 đến 16 tháng ba âm lịch. Hội Giá đã đi vào ca dao “Bởi Đăm, rước Giá, hội Thầy…” là hội to được nhiều khách thập phương tới tham dự. Hai đám rước của Yên Sở và Đắc Sở đến đình, quán của nhau rồi quay về. Lễ hội tái hiện chiến trận của anh hùng Lý Phục Man. Mượn yếu tố tâm linh văn hóa, lễ hội nhắc nhở các thế hệ sau ghi nhớ công ơn của người tướng tài đánh giặc, bảo vệ đất nước.
Nguồn tin: Báo Kinh tế & Đô thị
________
Ghi chú: Đây là bài báo mới nhất về Lý Phục Man được đăng ngày 15/9/2009
KTĐT-Xã Yên Sở (huyện Hoài Đức) có tên nôm là Giá Lụa hoặc Giá. Làng Giá trồng rất nhiều cây dừa nên còn gọi là “làng Dừa” và tương truyền đây là một sở đồn điền ngày xưa có người Chiêm Thành (Chăm pa) sinh sống.
Quán Giá là đền thờ chung của hai xã Yên Sở và Đắc Sở. Quán ở đây có nghĩa là nơi thờ thành hoàng làng, không phải nơi thờ tự của Đạo giáo.
Quán Giá thờ Lý Phục Man, một danh tướng của Lý Bí, sống ở thế kỷ thứ VI, quê ông ở làng Cổ Sở (huyện Hoài Đức), không rõ họ tên thật. Tương truyền ông giỏi võ nghệ, theo Lý Bí khởi nghĩa chống quân Lương (Trung Hoa) xâm chiếm nước ta, lập nhiều chiến công. Nhà Tiền Lý (544-555) thành lập, ông được cử trông coi vùng đất phía Nam, đánh tan cuộc xâm lấn của Chăm pa. Sau đó, ông kết hôn với công chúa Lý Nương, vua ban cho ông họ Lý và chức thiếu úy, gọi là tướng quân Lý Phục Man. Ông trở về quản lĩnh vùng đất Đỗ Động, Đường Lâm. Nhà Lương lại đưa quân sang xâm lược nước Vạn Xuân. Ông chỉ huy quân sĩ đánh giặc và hi sinh ở chiến trường. Thương nhớ và biết ơn ông, nhân dân ở nhiều nơi như Yên Sở (Hoài Đức), Xuân Đỉnh (Từ Liêm)… dựng đền, đình thờ Lý Phục Man.
Năm 1947, giặc Pháp đã đốt phá gần hết Quán Giá, chỉ còn lại hai tam quan, ba bức tường và hậu cung. Sau này, trên nền cũ, nhân dân địa phương đã dựng lại cả ba nhà đại đình, trung đình và thượng điện, tuy có nhỏ hơn trước song vẫn bảo đảm sự thờ cúng trang nghiêm. Tòa thượng điện vẫn còn bức tường hồi xây từ thời Nguyễn có các ô hình trang trí và cột trụ phía trước có đắp nghê trên đỉnh cột như một sự kiểm soát người vào quán lễ thánh. Bên cạnh khu đền chính, phía hồi phải có nhà bia và nhà ở của tuần canh (thời xưa), phía hồi trái có dãy nhà để ngựa và nhà bếp phục vụ cho sinh hoạt lễ hội. Lại thêm vườn hoa, cây cảnh, hòn non bộ ở đằng sau, tạo thành một cảnh quan cổ kính, trang nhã.
Riêng về hai tam quan, cái ngoài cách cái trong 20 mét, được các nhà nghiên cứu coi là trường hợp duy nhất trong cấu trúc đình đền ở nước ta. Trên tam quan thứ hai có gắn 49 mảnh đất nung được trang trí. Ở hai bức tường liền với hai cột trụ lớn có những viên gạch rất đặc biệt. Tường phía đông có 23 viên, tường phía tây có 26 viên. Đó là những viên gạch nung, vuông, có đường chỉ viền xung quanh, giữa là những hình nổi, không hình nào giống hình nào, tạo thành một bức tranh sống động. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thì coi đó là những cảnh sinh hoạt: người đang dong trâu cày ruộng, cô gái tắm ở ao sen, người cưỡi voi, người cưỡi ngựa, người gánh củi, hai người đánh cờ, người bơi thuyền đánh cá, mấy chú bé chăn trâu đùa nghịch… Các nhà nghiên cứu Phật giáo thì lại coi đó là những tích trong Phật thoại: cảnh hươu và mặt trời (hay hoa) là minh họa cảnh Phật Thích ca thuyết pháp lần đầu ở Lộc Uyển, cảnh ao sen có người tắm là miêu tả cảnh Phật tắm trước khi lên ngồi dưới gốc cây bồ đề, cảnh voi và hai người ngã vật là cảnh voi điên ở Rajagrha…
Trong Quán Giá may mắn còn tượng Lý Phục Man (không bị giặc Pháp phá hủy) ở giữa và tượng hai bà Phương Dung và Ả Nương ở hai bên, cùng bốn pho tượng đứng là các thị nữ, hộ sĩ. Ba pho tượng chính được tạo tác rất cẩn thận, ứng với ba ngai thờ, được chạm khắc tỉ mỉ, tỉa tót kỹ lưỡng. Cũng trang trọng như ngai thờ là hai hương án và một cỗ kiệu. Lại có một con ngựa to bằng đồng, bên ngoài phủ lớp sơn.
Nếu những di vật trên chỉ có thể biết niên đại tương đối khoảng thế kỷ XIX thì năm tấm bia đá lại cho biết niên đại tuyệt đối sớm hơn, thuộc các năm 1620, 1671, 1681, 1728 và 1803. Chính các bài văn bia này đã nói rõ thế đất địa linh sinh ra nhân kiệt, ca ngợi sự nghiệp của Lý Phục Man. Theo văn bia, thời Lý đã dựng Quán Giá, tạc tượng, thời Trần mở rộng đền (quán) và gia phong mỹ hiệu, thời Lê Trung hưng nhiều lần ban sắc, xây tam quan, nghi môn, thềm đá. Đến thời Nguyễn làm máng đồng, các hoành phi, câu đối…
Hàng năm, nhân dân vùng Giá (gồm 3 xã Yên Sở, Đắc Sở và Tiên Yên của huyện Hoài Đức) mở hội từ ngày 10 đến 16 tháng ba âm lịch. Hội Giá đã đi vào ca dao “Bởi Đăm, rước Giá, hội Thầy…” là hội to được nhiều khách thập phương tới tham dự. Hai đám rước của Yên Sở và Đắc Sở đến đình, quán của nhau rồi quay về. Lễ hội tái hiện chiến trận của anh hùng Lý Phục Man. Mượn yếu tố tâm linh văn hóa, lễ hội nhắc nhở các thế hệ sau ghi nhớ công ơn của người tướng tài đánh giặc, bảo vệ đất nước.
Nguồn tin: Báo Kinh tế & Đô thị
________
Ghi chú: Đây là bài báo mới nhất về Lý Phục Man được đăng ngày 15/9/2009
ĐỀN AN SỞ
Trần Kiêm Đạt
Ngôi đền nầy còn được gọi là đền Quán Giá, ở bến đò Cổ Sở (tên nôm là Bến Giá) xã An Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Ngôi đền nầy ngày trước thờ bộ tướng của vua Lý Nam Đế là Gia Thông Đại Vương Lý Phục Man và những cận tướng; về sau lại còn thờ Quan Công và Thiên Tiên Thánh Mẫu theo những truyền thuyết Trung Hoa và dân gian.
Bấy giờ quân Lâm Ấp thường đem quân sang cướp phá vùng biên thùy gây tai hại cho dân làng trong nhiều địa phương khác nhau... Tướng Lý Phục Man được lệnh đem quân đánh dẹp đem lại thanh bình cho dân chúng. Vua Lý Nam Đế tưởng thưởng rất hậu, đồng thời gả công chúa Nam Hoa cho, ban cho họ Lý, tên tự là Phục Man, thăng chức Thái Úy, đứng đầu trăm quan trong triều đình.
Sau nhà Lương sai Trần Bá Tiên đem đại quân sang xâm lăng nước ta, quân ta thua trận thủy chiến tại khu vực gần hồ Điển Triết (năm 546), vua Lý Nam Đế phải lánh vào động Khất Lạo rồi băng hà tại đó. Lý Phục Man thiếu lương thực, nên phải tự sát để khỏi rơi vào tay địch. Thi hài của ông được đưa về mai táng ở bến Hồ Mã gần bờ sông.
Năm Bính Thìn, niên hiệu Thuận Thiên thứ 7 (1016) vua Lý Thái Tổ nhân đi xem địa thế núi sông, đến bến đò An Sở, tìm hỏi được sự tích, bèn phong ông làm Phúc Thần của vùng nầy. Tương truyền đêm trước nhà vua chiêm bao thấy có dị nhân đến lạy, rồi kể lại lịch của mình; trước khi lui ra có đọc một bài thơ:
Thiên hạ tao mông một,
Trung thần nặc tính danh.
Trung thiên minh nhật nguyệt,
Thục bất kiến kỳ hình.
Nghĩa là:
Thiên hạ khi mờ tối,
Trung thần giấu tính danh.
Giữa trời nhật nguyệt sáng,
Ai chẳng thấy dáng hình.
Khi đó có quan Ngự sử đại phu Lương Nhậm Vân sau khi được xem bài thơ đã tâu: -Ngụ ý của cổ nhân trung thần nầy là muốn được thờ phượng.
Nhà vua nghe theo, bèn cho dựng đền thờ và đắp tượng đúng theo hình dáng mà mình cảm nhận được trong giấc mơ. Trùng Hưng thứ I (1285) vua Trần Nhân Tông sắc phong thần là Chung An Đại Vương. Trong đền thờ nầy còn lưu lại tấm bia của quan Lễ Bộ Hữu Tham Tri Nguyễn Tuấn Ngạn soạn ghi việc trùng tu ngôi đền năm Cảnh Trị (1663).
Nguồn tin: http://vn.myblog.yahoo.com/kienthuc-vanhoa/
Giáo Sư Trần Kiêm Đạt: Thành viên Société Des Etudes Indochinoises (SEI); Thành viên Bulletin Des Amis du Vieux Hué (BAVH); Giáo sư Đại học Đông phương (California); Giáo sư thỉnh giảng University of California-Irvine. Hiện cư ngụ tại: San Gabriel, CA.
___________
Ghi chú: Đây là thông tin từ GS. sống ở nước ngoài, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu của các nhà nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài đồng nhất hai nhân vật lịch sử thời Tiền Lý này. Nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường cũng cho Lý Phục Man chỉ là vị thần sông Đáy.
Với nhà nghiên cứu người Mỹ rất am hiểu lịch sử Việt Nam là GS. Keith Weller Taylor: Khi đọc bài dịch từ luận án tiến sỹ của GS. Keith Weller Taylor, mừng vì ông dẫn ra tài liệu cổ về Lý Phục Man. Nhưng khi có bản tiếng Anh "The Birth of Vietnam", mới hiểu ông đã dùng thông tin từ "Việt điện u linh" và viết:
“Ông (Phục Man) phụ tá vị vua ở phương Nam này với tư cách là một đại tướng quân và nổi tiếng là một người trung thành và dũng cảm. Ông được giao phó cai quản hai vùng thung lũng Đỗ Động và Đường Lâm; bọn Lao [man di] rất sợ ông và không dám gây rối, ông đã giữ được thái bình trong khắp vùng”.
Trong luận án của mình hoàn thành năm 1976, nhà sử học nước ngoài này cũng phân biệt rõ hai nhân vật.
Ngôi đền nầy còn được gọi là đền Quán Giá, ở bến đò Cổ Sở (tên nôm là Bến Giá) xã An Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Ngôi đền nầy ngày trước thờ bộ tướng của vua Lý Nam Đế là Gia Thông Đại Vương Lý Phục Man và những cận tướng; về sau lại còn thờ Quan Công và Thiên Tiên Thánh Mẫu theo những truyền thuyết Trung Hoa và dân gian.
Bấy giờ quân Lâm Ấp thường đem quân sang cướp phá vùng biên thùy gây tai hại cho dân làng trong nhiều địa phương khác nhau... Tướng Lý Phục Man được lệnh đem quân đánh dẹp đem lại thanh bình cho dân chúng. Vua Lý Nam Đế tưởng thưởng rất hậu, đồng thời gả công chúa Nam Hoa cho, ban cho họ Lý, tên tự là Phục Man, thăng chức Thái Úy, đứng đầu trăm quan trong triều đình.
Sau nhà Lương sai Trần Bá Tiên đem đại quân sang xâm lăng nước ta, quân ta thua trận thủy chiến tại khu vực gần hồ Điển Triết (năm 546), vua Lý Nam Đế phải lánh vào động Khất Lạo rồi băng hà tại đó. Lý Phục Man thiếu lương thực, nên phải tự sát để khỏi rơi vào tay địch. Thi hài của ông được đưa về mai táng ở bến Hồ Mã gần bờ sông.
Năm Bính Thìn, niên hiệu Thuận Thiên thứ 7 (1016) vua Lý Thái Tổ nhân đi xem địa thế núi sông, đến bến đò An Sở, tìm hỏi được sự tích, bèn phong ông làm Phúc Thần của vùng nầy. Tương truyền đêm trước nhà vua chiêm bao thấy có dị nhân đến lạy, rồi kể lại lịch của mình; trước khi lui ra có đọc một bài thơ:
Thiên hạ tao mông một,
Trung thần nặc tính danh.
Trung thiên minh nhật nguyệt,
Thục bất kiến kỳ hình.
Nghĩa là:
Thiên hạ khi mờ tối,
Trung thần giấu tính danh.
Giữa trời nhật nguyệt sáng,
Ai chẳng thấy dáng hình.
Khi đó có quan Ngự sử đại phu Lương Nhậm Vân sau khi được xem bài thơ đã tâu: -Ngụ ý của cổ nhân trung thần nầy là muốn được thờ phượng.
Nhà vua nghe theo, bèn cho dựng đền thờ và đắp tượng đúng theo hình dáng mà mình cảm nhận được trong giấc mơ. Trùng Hưng thứ I (1285) vua Trần Nhân Tông sắc phong thần là Chung An Đại Vương. Trong đền thờ nầy còn lưu lại tấm bia của quan Lễ Bộ Hữu Tham Tri Nguyễn Tuấn Ngạn soạn ghi việc trùng tu ngôi đền năm Cảnh Trị (1663).
Nguồn tin: http://vn.myblog.yahoo.com/kienthuc-vanhoa/
Giáo Sư Trần Kiêm Đạt: Thành viên Société Des Etudes Indochinoises (SEI); Thành viên Bulletin Des Amis du Vieux Hué (BAVH); Giáo sư Đại học Đông phương (California); Giáo sư thỉnh giảng University of California-Irvine. Hiện cư ngụ tại: San Gabriel, CA.
___________
Ghi chú: Đây là thông tin từ GS. sống ở nước ngoài, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu của các nhà nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài đồng nhất hai nhân vật lịch sử thời Tiền Lý này. Nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường cũng cho Lý Phục Man chỉ là vị thần sông Đáy.
Với nhà nghiên cứu người Mỹ rất am hiểu lịch sử Việt Nam là GS. Keith Weller Taylor: Khi đọc bài dịch từ luận án tiến sỹ của GS. Keith Weller Taylor, mừng vì ông dẫn ra tài liệu cổ về Lý Phục Man. Nhưng khi có bản tiếng Anh "The Birth of Vietnam", mới hiểu ông đã dùng thông tin từ "Việt điện u linh" và viết:
“Ông (Phục Man) phụ tá vị vua ở phương Nam này với tư cách là một đại tướng quân và nổi tiếng là một người trung thành và dũng cảm. Ông được giao phó cai quản hai vùng thung lũng Đỗ Động và Đường Lâm; bọn Lao [man di] rất sợ ông và không dám gây rối, ông đã giữ được thái bình trong khắp vùng”.
Trong luận án của mình hoàn thành năm 1976, nhà sử học nước ngoài này cũng phân biệt rõ hai nhân vật.
LÝ PHỤC MAN & QUÁN GIÁ
LÝ PHỤC MAN: danh tướng của Lý Bí, sống vào thế kỉ 6. Không rõ tên thật. Quê ở làng Cổ Sở (Hoài Đức, Hà Tây). Tương truyền là người giỏi võ nghệ, theo Lý Bí khởi nghĩa chống quân Lương (Trung Quốc), lập nhiều chiến công. Nhà Tiền Lý (544-555) thành lập, ông được cử trông coi vùng đất phía nam, đánh tan cuộc xâm lấn của Chămpa. Sau đó được gả công chúa Lý Nương, ban cho ông họ Lý và chức thiếu uý, được gọi là Phục Man tướng quân. Trở về quê quản lĩnh vùng đất Đỗ Động, Đường Lâm (Hà Tây). Nhà Lương xâm lược, ông hi sinh trong chiến đấu. Dân làng thương nhớ dựng đền thờ ông.
Quán Giá: di tích lịch sử-kiến trúc nghệ thuật ở xã Yên Sở (Kẻ Giá, Cổ Sở)-một làng Việt cổ bên đê Sông Đáy, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Đình làng Giá, dân quen gọi là QG, thờ Thành hoàng Lý Phục Man-vị tướng tài triều Lý Nam Đế (544-548), anh hùng dân tộc đánh giặc Chiêm, Lương. Bị giặc Pháp đốt năm 1947, nhưng vẫn còn giữ được nhiều cổ vật quý hiếm: 2 tam quan; hậu cung, ngựa đồng; 5 bia đá cổ, niên đại từ 1628 đến 1803. Hai tam quan Trong, Ngoài là cấu trúc hiếm, duy nhất trong hệ thống đình đền của Việt Nam. Tam quan Trong gắn “tranh liên hoàn” bằng 49 viên gạch trang trí: tường phía đông gắn 23 viên, phía tây 26 viên. Đây là loại gạch vuông nung màu đỏ, có hình nổi, mô tả người đánh cờ, voi, ngựa, trâu, cô gái tắm ao sen, người gánh củi, bơi thuyền theo các tích Phật. Trong hậu cung còn tượng Lý Phục Man. Yên Sở mở hội Rước Giá vào ngày 7-8 tháng ba âm lịch: rước có kiệu văn, nhạc bát âm, người rước chỉnh tề áo khăn màu đỏ. Cuối hội, hàng trăm người múa, xếp dồn chặt, xoáy trôn ốc, gọi là “nghiềm quân”, như bị giặc bao vây tứ bề. “Ông tướng” cầm cờ đại phá vây, thoát ra rất tài, khó ai biết. Rừng-QG là một dấu tích Làng-Rừng liền kề của văn hoá cội nguồn cư dân Đông Nam Á xưa bên Sông Đáy.
Nguồn tin: Từ điển bách khoa thư Việt Nam
__________
Từ điển này có thông tin về Lý Phục Man nhưng lại chưa thấy ghi về Phạm Tu.
Quán Giá: di tích lịch sử-kiến trúc nghệ thuật ở xã Yên Sở (Kẻ Giá, Cổ Sở)-một làng Việt cổ bên đê Sông Đáy, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Đình làng Giá, dân quen gọi là QG, thờ Thành hoàng Lý Phục Man-vị tướng tài triều Lý Nam Đế (544-548), anh hùng dân tộc đánh giặc Chiêm, Lương. Bị giặc Pháp đốt năm 1947, nhưng vẫn còn giữ được nhiều cổ vật quý hiếm: 2 tam quan; hậu cung, ngựa đồng; 5 bia đá cổ, niên đại từ 1628 đến 1803. Hai tam quan Trong, Ngoài là cấu trúc hiếm, duy nhất trong hệ thống đình đền của Việt Nam. Tam quan Trong gắn “tranh liên hoàn” bằng 49 viên gạch trang trí: tường phía đông gắn 23 viên, phía tây 26 viên. Đây là loại gạch vuông nung màu đỏ, có hình nổi, mô tả người đánh cờ, voi, ngựa, trâu, cô gái tắm ao sen, người gánh củi, bơi thuyền theo các tích Phật. Trong hậu cung còn tượng Lý Phục Man. Yên Sở mở hội Rước Giá vào ngày 7-8 tháng ba âm lịch: rước có kiệu văn, nhạc bát âm, người rước chỉnh tề áo khăn màu đỏ. Cuối hội, hàng trăm người múa, xếp dồn chặt, xoáy trôn ốc, gọi là “nghiềm quân”, như bị giặc bao vây tứ bề. “Ông tướng” cầm cờ đại phá vây, thoát ra rất tài, khó ai biết. Rừng-QG là một dấu tích Làng-Rừng liền kề của văn hoá cội nguồn cư dân Đông Nam Á xưa bên Sông Đáy.
Nguồn tin: Từ điển bách khoa thư Việt Nam
__________
Từ điển này có thông tin về Lý Phục Man nhưng lại chưa thấy ghi về Phạm Tu.
ĐÌNH KHÔNG XÀ, LÀNG BẢY BA GIẾNG
Anh Chi
Câu ngạn ngữ xứ Đoài trên chính là nói tới Kẻ Giá, làng quê có tới 73 cái giếng từ nhiều đời trước để lại, mà giếng nào cũng trong và ngọt mát. Còn ngôi đình Giá, chiều ngang 34m, chiều dọc 13, 5m không hề có xà dọc...
Rất tiếc, đình đã bị tàn phá năm 1947, thời kỳ Pháp chiếm đóng. Một công trình nghiên cứu của Ts Nguyễn Văn Huyên mô tả ngôi đình: Nóc đình kiểu 4 mái to lớn khác thường đặt trên những cột gỗ rất to. Đầu đao hình con rồng uốn cong 4 góc. Đình gồm 5 khoang giữa và 2 khoang đầu hồi, mỗi khoang có hai vì kèo với 6 cột đặt trên đá tảng. Hai cột giữa nối với nhau bằng câu đầu; những cột khác nối với nhau bằng kèo có chạm hoa, lá hay long, ly, quy, phượng. Chính những kèo này gánh hết sức nặng của mái đình. Các cột không nối với nhau bằng xà dọc, đó là đặc điểm của đình Giá, không ngôi đình nào ở Bắc bộ có cấu trúc như vậy...
Điểm hội tụ thứ 2 của người Việt cổ
Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định, Kẻ Giá là một làng quê rất cổ kính bên ngã ba sông Đáy, điểm hội tụ thứ hai (sau Bạch Hạc) của người Việt cổ trên con đường di dân từ Phong Châu về phía Đông và phía Nam. Kẻ là tên gọi nơi cư trú của người Lạc Việt, tương đương với làng sau này. Kẻ Giá sớm thịnh vượng, đông đúc và đến thế kỷ VI đã có tên chữ là Cổ Sở. Các thư tịch cổ như Việt điện u linh, Đại Việt sử ký toàn thư... chép sự tích Lý Phục Man đều đã ghi tên làng là Cổ Sở. Như các thư tịch cổ ghi, Lý Phục Man thể hiện rõ vai trò lớn của ông cùng dân chúng Kẻ Giá trong cuộc chiến đấu bảo vệ nhà nước Vạn Xuân độc lập tự chủ.
Kẻ Giá chỉ cách kinh thành Thăng Long vài chục cây số, nên trong những trận chiến lớn chống ngoại xâm của dân tộc, thường có sự đóng góp của dân binh Kẻ Giá. Những địa danh như Cầu Binh, Mả Gạo, Gò Tro… ở làng quê này chính là dấu tích những chiến công xưa. Cũng vào cuối thế kỷ XV, cư dân Cổ Sở phát triển đông đúc, nên phải tách thành hai làng là Yên Sở (tên Nôm là Giá Lụa) và Đắc Sở (tên Nôm là Giá, có người gọi là Sấu Giá). Sau nữa, hai làng thành hai xã riêng, hiện thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội, nhưng trong tâm thức người dân vùng quê này, đây vẫn là Kẻ Giá từ gần 2.000 năm xưa.
Ngày xưa, đường huyết mạch từ Thăng Long tới các lộ, trấn miền Tây là qua Cầu Giấy tới Diễn, Kẻ Giá, lên Sơn Tây... Dòng sông Đáy là tuyến đường thủy ra sông Hồng mà ngược lên Tây Bắc, hoặc xuôi xuống Kinh kỳ, hay theo kênh Chính Đại mà vào Thanh, Nghệ. Cho đến đời Tây Sơn, đời Nguyễn, Thăng Long không giữ vị thế Kinh đô nữa, nhưng sông Đáy vẫn có vai trò giao thông thủy rất quan trọng. Kẻ Giá trên bến, dưới thuyền tấp nập. Thị tứ Kẻ Giá rất thịnh vượng nhờ các sản phẩm của nghề tằm tang và đặc biệt là các sản phẩm từ cây dừa. Như vậy, cây dừa đến với đất Kẻ Giá đã hàng ngàn năm rồi. Văn hóa Chăm từ xa xưa cũng được đem theo ra đây, đã giao thoa với văn hóa bản địa ở Kẻ Giá, tạo nên nền nếp văn hóa dày sâu ở vùng quê này. Đến thế kỷ XX, 73 giếng cổ kiểu Chăm rất trong và mát là một dấu ấn văn hóa đặc biệt của Kẻ Giá.
Làng hiếu học
Trong nền tảng văn hóa phong phú của Kẻ Giá có một nét trội hẳn, đây là làng hiếu học, làng khoa bảng. 6 thế kỷ trước ở đất này đã có khoa bảng. Không kể khá nhiều người đỗ trung khoa, tiểu khoa, Kẻ Giá có 2 người đỗ đại khoa là Nguyễn Chiêu Khánh và Trần Danh Tiêu. Nguyễn Chiêu Khánh, sinh năm 1496, còn có tên là Chiêu Nghĩa, đỗ Hoàng giáp khoa Kỷ Sửu 1529 niên hiệu Minh Đức thứ 3 đời Mạc Đăng Dung. Ông làm quan Hàn lâm học sỹ. Trần Danh Tiêu sinh năm 1709, đỗ Tiến sỹ khoa Quý Sửu 1733 niên hiệu Long Đức thứ 2 đời Lê Thần Tông. Ông làm quan đến chức Đông các đại học sỹ.
Một dấu ấn văn hóa sâu đậm của Kẻ Giá là ngôi đình và ngôi quán với việc thờ phụng Lý Phục Man. Đình không xà đã bị phá hủy, di tích kiến trúc cổ kính còn lại ở Yên Sở là quán Giá, tọa lạc trên một thế đất rất đẹp. Trước kia, chung quanh quán là một khu rừng thâm nghiêm. Toàn bộ kiến trúc nằm trên diện tích chừng 6.000m2. Cổng ngoài xây hai trụ vuông, đầu trụ trang trí đầu rồng, trên đỉnh trụ tạo tác bốn con phượng kết cánh như hình đóa hoa xòe lên bốn cánh kép. Tường xây bằng gạch đỏ có hình chạm nổi, hoặc hình rồng, voi, phượng; hoặc hình ông chài, chàng thư sinh, người đánh cờ... Đáng chú ý, trên một viên gạch có chạm nổi câu chúc, già, trẻ trong làng được phúc, thọ, khang, ninh. Chính điện của quán gồm ba tòa đình song song, từ ngoài vào trong là Hạ đình, Trung đình và Thượng đình. Trong tòa Thượng đình có tượng thờ Lý Phục Man ở chính giữa, Lý Nương và Á Nương ở hai bên, ngoài nữa là hai thị nữ. Bên mé tường phía Tây Hạ đình có nhà bia, hiện lưu giữ 5 bia đá cổ niên đại từ 1620-1885. Văn bia ghi lại sự tích Lý Phục Man, một số sự kiện lịch sử làng, việc tu tạo đình và quán, những tập tục và quy ước của làng, một số lệnh chỉ và sắc phong… Đó là những tư liệu lịch sử quý hiếm. Đối xứng với nhà bia, mé tường phía đông có nhà để cỗ ngựa thờ bằng đồng hun được đúc năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), rất quý hiếm, nay được sơn trắng. Ngôi quán tọa lạc bên bờ sông Đáy chính là một không gian thiêng của vùng quê này.
Từ những vườn dừa xiêm, ngôi đình không xà, ngôi quán đẹp thiêng liêng, 73 khẩu giếng ngọt mát... đến ruộng lúa, bãi dâu bát ngát và nghề tằm tang, nghề dệt lụa... tất cả đã giao thoa, gắn bó hài hòa hàng ngàn năm qua, tạo nên một không gian văn hóa lớn. Sống trong không gian văn hóa do chính mình tạo nên, con người ở vùng quê này đã để những dấu ấn sâu sắc trong tiến trình giữ nước và xây dựng cuộc sống suốt mười mấy thế kỷ.
Nguồn tin: Người đại biểu nhân dân
___________
Ghi chú: Làng Giá là một làng cổ có truyền thống văn hóa lâu đời. Nét văn hóa của địa phương đã được bảo tồn và phát triển. Ngoài việc được thần phù trợ phải kể đến sự anh dũng của Kẻ Giá trong chống giặc giữ yên xóm làng. Dù vị thần Lý Phục Man là một nhân vật lịch sử nào khác nữa thì bản sắc được dựng xây từ xa xưa của người dân làng Giá vẫn bảo tồn. Nét đẹp văn hóa được phát huy khi sự thật được tôn trọng và cũng để tôn trọng chính những gì đang có thực.
Người dân làng Giá thành đạt trên nhiều lĩnh vực tự hào về quê hương yêu dấu cũng sẽ xem xét lại vấn đề không còn là việc riêng của làng Giá: Phạm Tu quê gốc ở làng Giá (xã Yên Sở, huyện Hoài Đức) hay ở làng Quang Liệt (xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì)? Tìm ra cơ sở của vấn đề đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu nhằm giải quyết câu hỏi lịch sử nhiều ẩn số này.
Chúng ta mong nhận được lời giải có sức thuyết phục từ quê hương Tướng quân Lý Phục Man để tìm ra sự thật một cách có cơ sở.
Câu ngạn ngữ xứ Đoài trên chính là nói tới Kẻ Giá, làng quê có tới 73 cái giếng từ nhiều đời trước để lại, mà giếng nào cũng trong và ngọt mát. Còn ngôi đình Giá, chiều ngang 34m, chiều dọc 13, 5m không hề có xà dọc...
Rất tiếc, đình đã bị tàn phá năm 1947, thời kỳ Pháp chiếm đóng. Một công trình nghiên cứu của Ts Nguyễn Văn Huyên mô tả ngôi đình: Nóc đình kiểu 4 mái to lớn khác thường đặt trên những cột gỗ rất to. Đầu đao hình con rồng uốn cong 4 góc. Đình gồm 5 khoang giữa và 2 khoang đầu hồi, mỗi khoang có hai vì kèo với 6 cột đặt trên đá tảng. Hai cột giữa nối với nhau bằng câu đầu; những cột khác nối với nhau bằng kèo có chạm hoa, lá hay long, ly, quy, phượng. Chính những kèo này gánh hết sức nặng của mái đình. Các cột không nối với nhau bằng xà dọc, đó là đặc điểm của đình Giá, không ngôi đình nào ở Bắc bộ có cấu trúc như vậy...
Điểm hội tụ thứ 2 của người Việt cổ
Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định, Kẻ Giá là một làng quê rất cổ kính bên ngã ba sông Đáy, điểm hội tụ thứ hai (sau Bạch Hạc) của người Việt cổ trên con đường di dân từ Phong Châu về phía Đông và phía Nam. Kẻ là tên gọi nơi cư trú của người Lạc Việt, tương đương với làng sau này. Kẻ Giá sớm thịnh vượng, đông đúc và đến thế kỷ VI đã có tên chữ là Cổ Sở. Các thư tịch cổ như Việt điện u linh, Đại Việt sử ký toàn thư... chép sự tích Lý Phục Man đều đã ghi tên làng là Cổ Sở. Như các thư tịch cổ ghi, Lý Phục Man thể hiện rõ vai trò lớn của ông cùng dân chúng Kẻ Giá trong cuộc chiến đấu bảo vệ nhà nước Vạn Xuân độc lập tự chủ.
Kẻ Giá chỉ cách kinh thành Thăng Long vài chục cây số, nên trong những trận chiến lớn chống ngoại xâm của dân tộc, thường có sự đóng góp của dân binh Kẻ Giá. Những địa danh như Cầu Binh, Mả Gạo, Gò Tro… ở làng quê này chính là dấu tích những chiến công xưa. Cũng vào cuối thế kỷ XV, cư dân Cổ Sở phát triển đông đúc, nên phải tách thành hai làng là Yên Sở (tên Nôm là Giá Lụa) và Đắc Sở (tên Nôm là Giá, có người gọi là Sấu Giá). Sau nữa, hai làng thành hai xã riêng, hiện thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội, nhưng trong tâm thức người dân vùng quê này, đây vẫn là Kẻ Giá từ gần 2.000 năm xưa.
Ngày xưa, đường huyết mạch từ Thăng Long tới các lộ, trấn miền Tây là qua Cầu Giấy tới Diễn, Kẻ Giá, lên Sơn Tây... Dòng sông Đáy là tuyến đường thủy ra sông Hồng mà ngược lên Tây Bắc, hoặc xuôi xuống Kinh kỳ, hay theo kênh Chính Đại mà vào Thanh, Nghệ. Cho đến đời Tây Sơn, đời Nguyễn, Thăng Long không giữ vị thế Kinh đô nữa, nhưng sông Đáy vẫn có vai trò giao thông thủy rất quan trọng. Kẻ Giá trên bến, dưới thuyền tấp nập. Thị tứ Kẻ Giá rất thịnh vượng nhờ các sản phẩm của nghề tằm tang và đặc biệt là các sản phẩm từ cây dừa. Như vậy, cây dừa đến với đất Kẻ Giá đã hàng ngàn năm rồi. Văn hóa Chăm từ xa xưa cũng được đem theo ra đây, đã giao thoa với văn hóa bản địa ở Kẻ Giá, tạo nên nền nếp văn hóa dày sâu ở vùng quê này. Đến thế kỷ XX, 73 giếng cổ kiểu Chăm rất trong và mát là một dấu ấn văn hóa đặc biệt của Kẻ Giá.
Làng hiếu học
Trong nền tảng văn hóa phong phú của Kẻ Giá có một nét trội hẳn, đây là làng hiếu học, làng khoa bảng. 6 thế kỷ trước ở đất này đã có khoa bảng. Không kể khá nhiều người đỗ trung khoa, tiểu khoa, Kẻ Giá có 2 người đỗ đại khoa là Nguyễn Chiêu Khánh và Trần Danh Tiêu. Nguyễn Chiêu Khánh, sinh năm 1496, còn có tên là Chiêu Nghĩa, đỗ Hoàng giáp khoa Kỷ Sửu 1529 niên hiệu Minh Đức thứ 3 đời Mạc Đăng Dung. Ông làm quan Hàn lâm học sỹ. Trần Danh Tiêu sinh năm 1709, đỗ Tiến sỹ khoa Quý Sửu 1733 niên hiệu Long Đức thứ 2 đời Lê Thần Tông. Ông làm quan đến chức Đông các đại học sỹ.
Một dấu ấn văn hóa sâu đậm của Kẻ Giá là ngôi đình và ngôi quán với việc thờ phụng Lý Phục Man. Đình không xà đã bị phá hủy, di tích kiến trúc cổ kính còn lại ở Yên Sở là quán Giá, tọa lạc trên một thế đất rất đẹp. Trước kia, chung quanh quán là một khu rừng thâm nghiêm. Toàn bộ kiến trúc nằm trên diện tích chừng 6.000m2. Cổng ngoài xây hai trụ vuông, đầu trụ trang trí đầu rồng, trên đỉnh trụ tạo tác bốn con phượng kết cánh như hình đóa hoa xòe lên bốn cánh kép. Tường xây bằng gạch đỏ có hình chạm nổi, hoặc hình rồng, voi, phượng; hoặc hình ông chài, chàng thư sinh, người đánh cờ... Đáng chú ý, trên một viên gạch có chạm nổi câu chúc, già, trẻ trong làng được phúc, thọ, khang, ninh. Chính điện của quán gồm ba tòa đình song song, từ ngoài vào trong là Hạ đình, Trung đình và Thượng đình. Trong tòa Thượng đình có tượng thờ Lý Phục Man ở chính giữa, Lý Nương và Á Nương ở hai bên, ngoài nữa là hai thị nữ. Bên mé tường phía Tây Hạ đình có nhà bia, hiện lưu giữ 5 bia đá cổ niên đại từ 1620-1885. Văn bia ghi lại sự tích Lý Phục Man, một số sự kiện lịch sử làng, việc tu tạo đình và quán, những tập tục và quy ước của làng, một số lệnh chỉ và sắc phong… Đó là những tư liệu lịch sử quý hiếm. Đối xứng với nhà bia, mé tường phía đông có nhà để cỗ ngựa thờ bằng đồng hun được đúc năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), rất quý hiếm, nay được sơn trắng. Ngôi quán tọa lạc bên bờ sông Đáy chính là một không gian thiêng của vùng quê này.
Từ những vườn dừa xiêm, ngôi đình không xà, ngôi quán đẹp thiêng liêng, 73 khẩu giếng ngọt mát... đến ruộng lúa, bãi dâu bát ngát và nghề tằm tang, nghề dệt lụa... tất cả đã giao thoa, gắn bó hài hòa hàng ngàn năm qua, tạo nên một không gian văn hóa lớn. Sống trong không gian văn hóa do chính mình tạo nên, con người ở vùng quê này đã để những dấu ấn sâu sắc trong tiến trình giữ nước và xây dựng cuộc sống suốt mười mấy thế kỷ.
Nguồn tin: Người đại biểu nhân dân
___________
Ghi chú: Làng Giá là một làng cổ có truyền thống văn hóa lâu đời. Nét văn hóa của địa phương đã được bảo tồn và phát triển. Ngoài việc được thần phù trợ phải kể đến sự anh dũng của Kẻ Giá trong chống giặc giữ yên xóm làng. Dù vị thần Lý Phục Man là một nhân vật lịch sử nào khác nữa thì bản sắc được dựng xây từ xa xưa của người dân làng Giá vẫn bảo tồn. Nét đẹp văn hóa được phát huy khi sự thật được tôn trọng và cũng để tôn trọng chính những gì đang có thực.
Người dân làng Giá thành đạt trên nhiều lĩnh vực tự hào về quê hương yêu dấu cũng sẽ xem xét lại vấn đề không còn là việc riêng của làng Giá: Phạm Tu quê gốc ở làng Giá (xã Yên Sở, huyện Hoài Đức) hay ở làng Quang Liệt (xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì)? Tìm ra cơ sở của vấn đề đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu nhằm giải quyết câu hỏi lịch sử nhiều ẩn số này.
Chúng ta mong nhận được lời giải có sức thuyết phục từ quê hương Tướng quân Lý Phục Man để tìm ra sự thật một cách có cơ sở.
TÌM CƠ SỞ ĐỒNG NHẤT LÝ PHỤC MAN VỚI PHẠM TU QUA TÀI LIỆU CỔ
Ngày 12. 9. 2009
Việc đồng nhất hai người là võ tướng dưới thời Lý Nam Đế đến nay chưa có hồi kết. Những tài liệu cổ ghi chép về hai vị không có nhiều bởi các sự kiện xảy ra thời nghìn năm Bắc thuộc rất hiếm nên không đầy đủ và khó khăn trong thẩm định. Tuy nhiên có việc đồng nhất này tất phải có lý do, trong đó phải xét đến nguồn tư liệu. Chúng ta thử khoanh vùng tư liệu xem từ đâu có việc đồng nhất này. Có thể chia làm 3 mảng tài liệu chính: Tài liệu chính thống xưa (gọi là Tài liệu cổ như cổ sử, văn bản cổ, văn bia, thần phả), tài liệu xuất bản hiện đại (Tài liệu hiện nay như sách, báo) và tư liệu khác trong dân gian như gia phả, truyền thuyết, truyền ngôn, … (gọi là tư liệu dân gian).
Nay chúng ta ưu tiên tài liệu cổ vì đó là tài liệu chính thức có trước và lại có cơ sở xác định niên đại. Còn sách hiện nay viết về hai nhân vật này sẽ dựa trên cơ sở là hai nguồn tư liệu kia.
A. CHÍNH SỬ
1. Đại Việt sử ký toàn thư (cuốn A1) là chính sử xưa nhất hiện còn tồn tại được khắc in và công bố lần đầu tiên vào năm 1697, Chính Hòa thứ 18 thời Lê Hy Tông. Sách đã ghi về 2 nhân vật như sau:
-Phạm Tu:
+ Mùa hạ năm Quý Hợi 543, tháng 4 vua Lâm Ấp cướp phá quận Nhật Nam, vua Lý Nam Đế sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở Cửu Đức;
+ Tháng giêng năm Giáp Tý 544, Lý Nam Đế lập nhà nước Vạn Xuân, lấy Triệu Túc làm Thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ.
-Lý Phục Man: năm 1016 xuất hiện là vị thần trong giấc mộng của Lý Thái Tổ khi vua đi tuần thú qua Cổ Sở.
B. NGOÀI CHÍNH SỬ
1. Việt điện u linh tập (cuốn B1) do quan Phụng ngự Lý Tế Xuyên, biên soạn vào thời Lý-Trần dựa theo các tài liệu có trong thư khố triều đình.
-Phạm Tu: Trong truyện “Triệu Việt Vương, Lý Nam Đế” ghi việc Lý Bôn cử ông đánh Lâm Ấp
-Lý Phục Man: Trong truyện “Chứng an minh hộ quốc công-Lý Phục Man” đầu truyện kể giấc mộng của Lý Thái Tổ gặp thần (giống trong cuốn A1), sau kể các chuyện linh ứng của thần.
2. Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập (cuốn B2) của Gia Cát thị cuối thế kỷ 18 viết từ B1. Trong tác phẩm có truyện Vạn Xuân quốc đế ký ghi hai nhân vật đánh quân Lương ở Hợp Phố
-Phạm Tu là Hữu vệ hộ quân
-Lý Phục Man là Tả vệ hộ quân
Truyện này có nói đến quân Vạn Xuân chia đôi, từ Khuất Liêu, bên Lý tiến vào Cửu Chân và bên Triệu về Dạ Trạch.
3. Thiên Nam ngữ lục (cuốn B3) có từ thế kỷ 18 không rõ tác giả. Trong đó hai nhân vật xuất hiện ở 4 câu liên tiếp:
Phục Man trấn thủ cõi xa
Nghe tin Nam Đế phải thua Triệt Hồ
Vua cùng tướng quân Phạm Tu
Vào Khuất Liêu động thác hư lên trời
Xem thêm phân tích của PGS. TS. Trương Sỹ Hùng ở trang 25, 26 để thấy cuốn B3 phân biệt rõ hai nhân vật.
4. Lĩnh Nam trích quái: Một tài liệu cổ khác cần xem xét, sách được cho là do Trần Thế Pháp biên soạn vào cuối đời Trần. Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên soạn lại và hiệu đính vào năm 1492-1493. Trong chuyện về Triệu Việt Vương có nói đến Lý Bí cử Phạm Tu đánh giặc ở Cửu Đức, còn chuyện về Lý Phục Man cũng viết tương tự cuốn “Việt điện u linh tập”. Vậy tài liệu này thống nhất với cuốn B1.
Như vậy chuyện ngoài chính sử xét về việc đồng nhất không có phần nào mâu thuẫn với chính sử. Cuốn B2, B3 đã cho Lý Phục Man xuất hiện là một nhân vật cùng thời Phạm Tu, hai nhân vật riêng biệt, hoàn toàn không đồng nhất. Có khác là cuốn B2 đã cho Lý Phục Man xuất hiện chỉ huy Tả quân, Phạm Tu chỉ huy Hữu quân đánh quân Lương ở Hợp Phố. Cuốn B3 thì cho là Lý Phục Man trấn thủ cõi xa (có thể miền Đỗ Động, Đường Lâm hoặc phương Nam-xứ Nghệ ngày nay) khi quân Lý Nam Đế thua ở hồ Điển Triệt (năm 547), còn Phạm Tu mất cùng Lý Nam Đế ở động Khuất Liêu.
Qua 5 tài liệu nêu trên thì B2, B3 là những sáng tác mang tính văn học đã nêu 2 nhân vật độc lập. Nếu muốn đồng nhất hai nhân vật thì phải loại hai tài liệu này, vì đó là sáng tác văn học, mà B3 còn không rõ tác giả. Hai tài liệu ở thế kỷ 18 này đã nêu hai nhân vật riêng biệt.
Cả hai cuốn A1, B1 tài liệu có nhân vật Lý Phục Man, với vị trí đều là một vị thần tự xưng tên Lý Phục Man và khi còn sống là võ tướng của Lý Nam Đế, không có một sự kiện lịch sử của nhân vật này ngoài việc thần xưng cai quản Đỗ Động, Đường Lâm. Lý Phục Man qua tài liệu cổ xem xét để đồng nhất thì là vị thần nên chưa có căn cứ để đồng nhất hai nhân vật này.
Còn Phạm Tu cũng xuất hiện trong sự kiện lịch sử ghi rõ thời gian xảy ra và có vị trí chỉ huy rõ ràng. Phạm Tu được nhắc đến 2 lần trong chính sử có công đánh giặc phương Nam (hai cuốn A1, B1) và đứng đầu tướng võ (cuốn A1) của triều đình Lý Nam Đế thời kỳ này. Các nhà nghiên cứu hiện nay xác thực thông tin về Phạm Tu và chiến thành dựng bên cửa sông Tô cùng việc hy sinh của ông tại đây. Trong đó có căn cứ từ sử thời nhà Lương, Trần (Bá Tiên) của Trung Quốc.
Một mảng tài liệu quan trọng đó chính là văn bia. Chúng ta sẽ nghiên cứu riêng về mảng tư liệu chính thống này ở một bài riêng.
Rõ ràng có một số tài liệu xuất bản hiện đại đã đồng nhất hai nhân vật, nhưng căn cứ là mảng tài liệu xuất bản cổ và tư liệu xưa trong dân gian. Vì không tìm được tài liệu cổ nào khác nên ta rút ra nhận xét ban đầu: không có cơ sở đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu xuất phát từ Tài liệu cổ hiện còn lưu giữ được.
Việc đồng nhất hai người là võ tướng dưới thời Lý Nam Đế đến nay chưa có hồi kết. Những tài liệu cổ ghi chép về hai vị không có nhiều bởi các sự kiện xảy ra thời nghìn năm Bắc thuộc rất hiếm nên không đầy đủ và khó khăn trong thẩm định. Tuy nhiên có việc đồng nhất này tất phải có lý do, trong đó phải xét đến nguồn tư liệu. Chúng ta thử khoanh vùng tư liệu xem từ đâu có việc đồng nhất này. Có thể chia làm 3 mảng tài liệu chính: Tài liệu chính thống xưa (gọi là Tài liệu cổ như cổ sử, văn bản cổ, văn bia, thần phả), tài liệu xuất bản hiện đại (Tài liệu hiện nay như sách, báo) và tư liệu khác trong dân gian như gia phả, truyền thuyết, truyền ngôn, … (gọi là tư liệu dân gian).
Nay chúng ta ưu tiên tài liệu cổ vì đó là tài liệu chính thức có trước và lại có cơ sở xác định niên đại. Còn sách hiện nay viết về hai nhân vật này sẽ dựa trên cơ sở là hai nguồn tư liệu kia.
A. CHÍNH SỬ
1. Đại Việt sử ký toàn thư (cuốn A1) là chính sử xưa nhất hiện còn tồn tại được khắc in và công bố lần đầu tiên vào năm 1697, Chính Hòa thứ 18 thời Lê Hy Tông. Sách đã ghi về 2 nhân vật như sau:
-Phạm Tu:
+ Mùa hạ năm Quý Hợi 543, tháng 4 vua Lâm Ấp cướp phá quận Nhật Nam, vua Lý Nam Đế sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở Cửu Đức;
+ Tháng giêng năm Giáp Tý 544, Lý Nam Đế lập nhà nước Vạn Xuân, lấy Triệu Túc làm Thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ.
-Lý Phục Man: năm 1016 xuất hiện là vị thần trong giấc mộng của Lý Thái Tổ khi vua đi tuần thú qua Cổ Sở.
B. NGOÀI CHÍNH SỬ
1. Việt điện u linh tập (cuốn B1) do quan Phụng ngự Lý Tế Xuyên, biên soạn vào thời Lý-Trần dựa theo các tài liệu có trong thư khố triều đình.
-Phạm Tu: Trong truyện “Triệu Việt Vương, Lý Nam Đế” ghi việc Lý Bôn cử ông đánh Lâm Ấp
-Lý Phục Man: Trong truyện “Chứng an minh hộ quốc công-Lý Phục Man” đầu truyện kể giấc mộng của Lý Thái Tổ gặp thần (giống trong cuốn A1), sau kể các chuyện linh ứng của thần.
2. Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập (cuốn B2) của Gia Cát thị cuối thế kỷ 18 viết từ B1. Trong tác phẩm có truyện Vạn Xuân quốc đế ký ghi hai nhân vật đánh quân Lương ở Hợp Phố
-Phạm Tu là Hữu vệ hộ quân
-Lý Phục Man là Tả vệ hộ quân
Truyện này có nói đến quân Vạn Xuân chia đôi, từ Khuất Liêu, bên Lý tiến vào Cửu Chân và bên Triệu về Dạ Trạch.
3. Thiên Nam ngữ lục (cuốn B3) có từ thế kỷ 18 không rõ tác giả. Trong đó hai nhân vật xuất hiện ở 4 câu liên tiếp:
Phục Man trấn thủ cõi xa
Nghe tin Nam Đế phải thua Triệt Hồ
Vua cùng tướng quân Phạm Tu
Vào Khuất Liêu động thác hư lên trời
Xem thêm phân tích của PGS. TS. Trương Sỹ Hùng ở trang 25, 26 để thấy cuốn B3 phân biệt rõ hai nhân vật.
4. Lĩnh Nam trích quái: Một tài liệu cổ khác cần xem xét, sách được cho là do Trần Thế Pháp biên soạn vào cuối đời Trần. Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên soạn lại và hiệu đính vào năm 1492-1493. Trong chuyện về Triệu Việt Vương có nói đến Lý Bí cử Phạm Tu đánh giặc ở Cửu Đức, còn chuyện về Lý Phục Man cũng viết tương tự cuốn “Việt điện u linh tập”. Vậy tài liệu này thống nhất với cuốn B1.
Như vậy chuyện ngoài chính sử xét về việc đồng nhất không có phần nào mâu thuẫn với chính sử. Cuốn B2, B3 đã cho Lý Phục Man xuất hiện là một nhân vật cùng thời Phạm Tu, hai nhân vật riêng biệt, hoàn toàn không đồng nhất. Có khác là cuốn B2 đã cho Lý Phục Man xuất hiện chỉ huy Tả quân, Phạm Tu chỉ huy Hữu quân đánh quân Lương ở Hợp Phố. Cuốn B3 thì cho là Lý Phục Man trấn thủ cõi xa (có thể miền Đỗ Động, Đường Lâm hoặc phương Nam-xứ Nghệ ngày nay) khi quân Lý Nam Đế thua ở hồ Điển Triệt (năm 547), còn Phạm Tu mất cùng Lý Nam Đế ở động Khuất Liêu.
Qua 5 tài liệu nêu trên thì B2, B3 là những sáng tác mang tính văn học đã nêu 2 nhân vật độc lập. Nếu muốn đồng nhất hai nhân vật thì phải loại hai tài liệu này, vì đó là sáng tác văn học, mà B3 còn không rõ tác giả. Hai tài liệu ở thế kỷ 18 này đã nêu hai nhân vật riêng biệt.
Cả hai cuốn A1, B1 tài liệu có nhân vật Lý Phục Man, với vị trí đều là một vị thần tự xưng tên Lý Phục Man và khi còn sống là võ tướng của Lý Nam Đế, không có một sự kiện lịch sử của nhân vật này ngoài việc thần xưng cai quản Đỗ Động, Đường Lâm. Lý Phục Man qua tài liệu cổ xem xét để đồng nhất thì là vị thần nên chưa có căn cứ để đồng nhất hai nhân vật này.
Còn Phạm Tu cũng xuất hiện trong sự kiện lịch sử ghi rõ thời gian xảy ra và có vị trí chỉ huy rõ ràng. Phạm Tu được nhắc đến 2 lần trong chính sử có công đánh giặc phương Nam (hai cuốn A1, B1) và đứng đầu tướng võ (cuốn A1) của triều đình Lý Nam Đế thời kỳ này. Các nhà nghiên cứu hiện nay xác thực thông tin về Phạm Tu và chiến thành dựng bên cửa sông Tô cùng việc hy sinh của ông tại đây. Trong đó có căn cứ từ sử thời nhà Lương, Trần (Bá Tiên) của Trung Quốc.
Một mảng tài liệu quan trọng đó chính là văn bia. Chúng ta sẽ nghiên cứu riêng về mảng tư liệu chính thống này ở một bài riêng.
Rõ ràng có một số tài liệu xuất bản hiện đại đã đồng nhất hai nhân vật, nhưng căn cứ là mảng tài liệu xuất bản cổ và tư liệu xưa trong dân gian. Vì không tìm được tài liệu cổ nào khác nên ta rút ra nhận xét ban đầu: không có cơ sở đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu xuất phát từ Tài liệu cổ hiện còn lưu giữ được.
XÁC ĐỊNH THỜI GIAN XUẤT HIỆN VIỆC ĐỒNG NHẤT LÝ PHỤC MAN VỚI PHẠM TU
Tôi đã đọc khá kỹ bài viết hàng chục trang về Lý Phục Man của ông Nguyễn Thế Dũng đã đăng ba lần (sẽ còn đăng tiếp) trên blog Người làng Giá (NLG). Cố gắng xem có thấy quan điểm mang tính thuyết phục của việc đồng nhất không. Vẫn chưa có, và có lẽ sẽ không có! Vì nếu có cũng nêu ra chứ đâu cần dùng cụm song tên “Phạm Tu-Lý Phục Man” mà chỉ cần gọi “Phục Man tướng công”, hay “Lý phò mã” là đủ rồi.
Có cơ sở khoa học thì cũng không ai viết dài để bộc lộ mâu thuẫn mà trong đó rất nhiều điểm không thể là của Phạm Tu-trưởng ban Võ nhà nước Vạn Xuân, và có khi lại không còn là của Lý Phục Man nữa. Chúng ta thấy GS. Nguyễn Văn Huyên (1908-1975) cũng không tìm ra tên “khai sinh” của Lý Phục Man và khi đó ông đã chưa gặp vấn đề đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Rõ ràng việc đồng nhất đã xảy ra sau năm 1939-sau khi GS. Nguyễn Văn Huyên công bố công trình nghiên cứu về Lý Phục Man.
GS. Nguyễn mất năm 1975 ở CHDC Đức khi chữa bệnh tại đó, đây là mốc thời gian chúng ta có thể xem xét trước khi có thông tin về việc đồng nhất chính thức in trên sách phát hành rộng rãi năm 1991: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội).
Có thể co hẹp thời gian là việc nghi vấn đã phôi thai từ trước và sau đó đến những năm 70 và 80 của thế kỷ trước đã bắt đầu xảy ra việc đồng nhất này và trở thành một chủ đề quan tâm của giới khoa học. Khi GS. Nguyễn Văn Huyên là Phó hội trưởng Hội Sử học (năm 1966 ông được bầu phó hội trưởng trong Đại hội thành lập), điều này chắc đã chưa công bố rộng rãi?
Xin trích đoạn viết của NLG làm căn cứ:
Học giả Nguyễn Văn Huyên đã viết “Lý Phục Man chỉ là cái tên vua ban. Cả tên lẫn họ đều không phải tên họ của Tướng công lúc ra đời. Được gia ân mang tên họ mới và sau đấy người ta chỉ còn gọi biệt danh đến nỗi tên gốc hoàn toàn biến mất”. Và dân làng Giá chỉ còn kiêng tên Man mà không kiêng tên Tu nữa. Sự thực là tên gốc của Tướng công không hoàn toàn mất. Một số cuốn sách bằng chữ Hán ghi lại sự tích của Tướng công vẫn còn đó, những lời truyền miệng trong dân gian do những nhà nho xưa kể lại vẫn còn đó: Phạm Tu và Lý Phục Man là danh xưng của một người, một nhân vật lịch sử quê gốc ở làng Giá xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Nói cách khác Phạm Tu chính là Lý Phục Man hay ngược lại Lý Phục Man chính là Phạm Tu.
GS. Nguyễn Văn Huyên quê xã Kim Chung, Hoài Đức ở ngay gần Yên Sở (cách khoảng 4km), cùng trên trục đường thiên lý xứ Đoài xưa, chúng ta tin tưởng ông là người có nhiều thông tin về Lý Phục Man nhất khi khai thác tài liệu có những năm ba mươi của thế kỷ trước. Cuốn “Hồi ức Nguyễn Văn Huyên” do con gái ông ghi lại cả một phần nói về các công trình khoa học trong đó có công trình mà chúng ta quan tâm.
«Nhưng có thể nói rằng đối với ngành dân tộc học Việt nam thì ông là người đầu tiên sử dụng các phương pháp khoa học hiện đại cho việc điền dã đó thì chính xác hơn. Các phương pháp ấy thể hiện rất rõ ngay từ trong chuẩn bị luận án tiến sĩ của ông về “Hát đối nam nữ” và “Nhà sàn Đông Nam Á”, cũng như trong tất cả các đề tài về sau này....
Đó chính là những phương pháp khoa học hiện đại đầu tiên mà ông đưa vào hai công trình nghiên cứu đó. Những cái đó là hoàn toàn mới, mang một hơi thở mới vào trong nghiên cứu văn hoá, lịch sử Việt nam. Sau khi về nước ông tiếp tục triển khai và sử dụng các phương pháp đó bây giờ ta gọi là phương pháp quan sát trực tiếp và tham dự. Thí dụ như khi ông viết về hội Gióng hay hội Lý Phục Man thì ông phải ở đấy cả tháng. Ở hội Lý Phục Man, ông ở tại đây 15 ngày, quan sát xem xét, tham gia và thực hiện ghi chép rất tỉ mỉ. Hiện nay ở nhà vẫn còn giữ được mấy quyển ghi chép của ông rất hay mà sau này nó được thể hiện trên các bài báo của ông.»
GS. Trần Quốc Vượng đánh giá: “Ông là một nhà khoa học nhân văn lớn và hiện đại đầu tiên ở nửa đầu thế kỷ 20 này”... “Giới nghiên cứu trẻ/già hôm nay còn được học và phải học ở ông nhiều về phương pháp luận và các phương pháp tiếp cận những sự kiện nhân văn, vừa cụ thể vừa tổng thể.” (Theo cuốn “Trần Quốc Vượng”, trang 945).
Có cơ sở khoa học thì cũng không ai viết dài để bộc lộ mâu thuẫn mà trong đó rất nhiều điểm không thể là của Phạm Tu-trưởng ban Võ nhà nước Vạn Xuân, và có khi lại không còn là của Lý Phục Man nữa. Chúng ta thấy GS. Nguyễn Văn Huyên (1908-1975) cũng không tìm ra tên “khai sinh” của Lý Phục Man và khi đó ông đã chưa gặp vấn đề đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Rõ ràng việc đồng nhất đã xảy ra sau năm 1939-sau khi GS. Nguyễn Văn Huyên công bố công trình nghiên cứu về Lý Phục Man.
GS. Nguyễn mất năm 1975 ở CHDC Đức khi chữa bệnh tại đó, đây là mốc thời gian chúng ta có thể xem xét trước khi có thông tin về việc đồng nhất chính thức in trên sách phát hành rộng rãi năm 1991: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội).
Có thể co hẹp thời gian là việc nghi vấn đã phôi thai từ trước và sau đó đến những năm 70 và 80 của thế kỷ trước đã bắt đầu xảy ra việc đồng nhất này và trở thành một chủ đề quan tâm của giới khoa học. Khi GS. Nguyễn Văn Huyên là Phó hội trưởng Hội Sử học (năm 1966 ông được bầu phó hội trưởng trong Đại hội thành lập), điều này chắc đã chưa công bố rộng rãi?
Xin trích đoạn viết của NLG làm căn cứ:
Học giả Nguyễn Văn Huyên đã viết “Lý Phục Man chỉ là cái tên vua ban. Cả tên lẫn họ đều không phải tên họ của Tướng công lúc ra đời. Được gia ân mang tên họ mới và sau đấy người ta chỉ còn gọi biệt danh đến nỗi tên gốc hoàn toàn biến mất”. Và dân làng Giá chỉ còn kiêng tên Man mà không kiêng tên Tu nữa. Sự thực là tên gốc của Tướng công không hoàn toàn mất. Một số cuốn sách bằng chữ Hán ghi lại sự tích của Tướng công vẫn còn đó, những lời truyền miệng trong dân gian do những nhà nho xưa kể lại vẫn còn đó: Phạm Tu và Lý Phục Man là danh xưng của một người, một nhân vật lịch sử quê gốc ở làng Giá xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Nói cách khác Phạm Tu chính là Lý Phục Man hay ngược lại Lý Phục Man chính là Phạm Tu.
GS. Nguyễn Văn Huyên quê xã Kim Chung, Hoài Đức ở ngay gần Yên Sở (cách khoảng 4km), cùng trên trục đường thiên lý xứ Đoài xưa, chúng ta tin tưởng ông là người có nhiều thông tin về Lý Phục Man nhất khi khai thác tài liệu có những năm ba mươi của thế kỷ trước. Cuốn “Hồi ức Nguyễn Văn Huyên” do con gái ông ghi lại cả một phần nói về các công trình khoa học trong đó có công trình mà chúng ta quan tâm.
«Nhưng có thể nói rằng đối với ngành dân tộc học Việt nam thì ông là người đầu tiên sử dụng các phương pháp khoa học hiện đại cho việc điền dã đó thì chính xác hơn. Các phương pháp ấy thể hiện rất rõ ngay từ trong chuẩn bị luận án tiến sĩ của ông về “Hát đối nam nữ” và “Nhà sàn Đông Nam Á”, cũng như trong tất cả các đề tài về sau này....
Đó chính là những phương pháp khoa học hiện đại đầu tiên mà ông đưa vào hai công trình nghiên cứu đó. Những cái đó là hoàn toàn mới, mang một hơi thở mới vào trong nghiên cứu văn hoá, lịch sử Việt nam. Sau khi về nước ông tiếp tục triển khai và sử dụng các phương pháp đó bây giờ ta gọi là phương pháp quan sát trực tiếp và tham dự. Thí dụ như khi ông viết về hội Gióng hay hội Lý Phục Man thì ông phải ở đấy cả tháng. Ở hội Lý Phục Man, ông ở tại đây 15 ngày, quan sát xem xét, tham gia và thực hiện ghi chép rất tỉ mỉ. Hiện nay ở nhà vẫn còn giữ được mấy quyển ghi chép của ông rất hay mà sau này nó được thể hiện trên các bài báo của ông.»
GS. Trần Quốc Vượng đánh giá: “Ông là một nhà khoa học nhân văn lớn và hiện đại đầu tiên ở nửa đầu thế kỷ 20 này”... “Giới nghiên cứu trẻ/già hôm nay còn được học và phải học ở ông nhiều về phương pháp luận và các phương pháp tiếp cận những sự kiện nhân văn, vừa cụ thể vừa tổng thể.” (Theo cuốn “Trần Quốc Vượng”, trang 945).
TRẢ LỜI MỘT SỐ Ý KIẾN CỦA NGƯỜI VIẾT BLOG NGƯỜI LÀNG GIÁ VỀ DANH TƯỚNG PHẠM TU Ở THANH LIỆT
Ngày 29. 9. 2009
Bài viết này để phần nào trả lời các bài viết về Lý Phục Man có một số suy nghĩ của ông Nguyễn Thế Dũng-người viết blog NLG hiện ở đội 3 xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (điện thoại: 04. 3366 7224) với suy nghĩ tôn trọng người cao tuổi viết blog này (đã ngoài 70 tuổi) đồng thời kính trọng danh nhân Phạm Tu (476-545) đã sống, đánh giặc vì đất nước, vì người dân quê hương ông (Thăng Long-Hà Nội xưa) cách đây 15 thế kỷ. Ông đã mất ở tuổi 70 ngay ngoài chiến trận-chiến thành ở cửa sông Tô Lịch. Tháp Bút có độ tuổi bằng một nửa tuổi 70 với suy nghĩ còn nhiều điều chưa thấu đáo, kiến thức còn hạn hẹp cũng xin trả lời một số vấn đề chính đã nêu trên blog Người làng Giá:
Có thể quan điểm tách rời Phạm Tu-Lý Phục Man là hai nhân vật lịch sử riêng rẽ của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt là căn cứ vào một “khám phá” gây nhiều tranh cãi của nhà sử học Lê Văn Lan. Trong bài viết “Phát hiện sử học mới về Lão tướng quân Phạm Tu” cũng đăng trên báo Quân đội Nhân dân cuối tuần số ra ngày 06/12/1998. Mặc dầu nhà sử học họ Lê reo lên là “phát hiện sử học mới “ là “may thay gần đây đã có những công phu để bắt được sóng tín hiệu mới rất có giá trị về lão tướng quân Phạm Tu” nhưng oái ăm thay, “cũ người mới ta”, những gì được coi là mới ở đây đã được nhiều nhà sử học nghiên cứu, xem xét từ trước đó 16 năm rồi. Đó là cuộc khảo sát, nghiên cứu khá công phu của giáo sư Phan Huy Lê, chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam cùng với Đại tá Phó viện trưởng Viện sử học Quân đội Phan Huy Thiệp, Tiến sĩ sử học quân đội Nguyễn Anh cùng đông đảo các cộng sự tại Thanh Liệt, Thanh Trì từ giữa năm 1982 của thế kỷ trước. Kết quả cuộc khảo sát này đã được thông báo tại cuộc hội thảo về Phạm Tu-Lý Phục Man tại xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Tây, ngày 25/12/1982. Sau đó, giáo sư Phan Huy Lê cho đăng bài “Kẻ Giá một làng chiến đấu” trên tạp chí Dân tộc học số 46 tháng 2/1985 trong đó có nói đến cuộc khảo sát của giáo sư và đồng nghiệp tại Thanh Liệt năm 1982. Kết quả của những cuộc khảo sát này cho thấy:
- Bản Thần phả của Đình Ngoại xã Thanh Liệt có tiêu đề “Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu Thụy Đô hồ Đại vương Thượng đẳng thần sử tích” mới được chép lại tại đền Hùng (Phú Thọ) năm Bảo Đại thứ 9 (1934) mà “chép lại một cách sơ sài, không cẩn thận, có chữ còn để trống hay bỏ sót”. Đây có lẽ là sự tích một vị cư sĩ ở ẩn, một phật tử tu tại gia (cư sĩ), sau khi mất có sự linh ứng (cảm ứng) nên được phong tên thụy là Đô hồ, quan võ trông coi hồ nước của địa phương này đó là hồ Thanh đàm. Thật kỳ lạ, sau này có người lại giải thích chữ “đô” gốc Hán (trong sắc phong) thành chữ “đô” tiếng Việt trong “đô vật” rồi lại chuyển Phạm Tu thành Phạm Đô Tu, một tên riêng rất xa lạ với nhân vật lịch sử Phạm Tu, đã được Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư.
- Tấm bài vị ở đây cũng đã rõ “Bản thổ Tiền Lý Triều Long biên hầu, Đô hồ Đại vương Thần vị” Vị thành hoàng ở đây được phong tặng tước hầu, vị thần trông coi hồ nước-Về sắc phong của các triều đại ban tặng cho Đô hồ đại vương ở đây có 13 đạo, cổ nhất là đạo sắc của vua Lê Cảnh Hưng năm thứ nhất (1740) và gần nhất là của vua Khải Định, nhà Nguyễn (1916-1925). Nội dung chủ yếu của các đạo sắc phong này là nói về sự linh ứng của Thần, trong đó, đặc biệt có vài ba đạo sắc đời vua Minh Mệnh, năm thứ 5 (1824) ban tặng “Thủy thần phán quan”-ban cho Thần coi sóc mặt nước. Đạo sắc đời vua Tự Đức thứ 3 (1850) tặng mỹ tự “Trường trạm” nghĩa là giữ nước luôn trong trẻo, đời vua Duy Tân ban tặng mỹ tự “Linh Thuý” nghĩa là giữ mặt nước luôn trong trẻo, không pha tạp... Rõ ràng đó là những chữ đẹp phong cho một vị Thần trông giữ hồ nước.
- Tấm bia đá trong đình nói là tấm bia có từ đời Lương (?) Trung quốc (thế kỷ thứ 6) thực ra chỉ là một tấm bia hậu dựng năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái nhà Nguyễn, thờ cụ Phạm Tế, quê gốc Thanh Hóa, thiên cư ra Thanh Liệt mới được dăm sáu đời nay.
- Bức tranh thờ nói là chân dung Phạm Tu là một tấm hình vẽ trên một mảnh lụa đã cũ, một người dân ở Thanh Liệt là cụ Nhiêu Cỏn mới vẽ lại trên một tờ giấy tây. Đoàn khảo sát năm 1982 đã gặp người vẽ lại tấm hình và được xác nhận là đúng.
- Đình ngoại thờ Đô hồ đại vương là một ngôi đình có qui mô khá khiêm tốn, được tọa lạc ngay bờ hồ, ven làng, cũng mới được tân tạo thời Lê Hiển Tông (1740-1786) đến nay mới có vài trăm năm. Việc bài trí, trần thiết cũng còn sơ sài, đến cỗ kiệu rước cũng không có, phải dùng kiệu ở Định nội mỗi khi rước hội. Nếu quả thật danh tướng Phạm Tu quê ở Thanh Liệt thì nhân dân địa phương chẳng lẽ lại bỏ quên người con trung liệt của quê hương tới 12 thế kỷ sau mới lập ngôi đền thờ quá khiêm tốn đến vậy? Cả các vương triều phong kiến xưa hình như cũng lẵng quên vị khai cuốc công thần nhà Tiền Lý nên đến tận đời Lê Cảnh Hưng mới dựng đình thờ? Ai cũng biết, đại danh nho Chu Văn An (1292-1370) đời Trần, người làng Thanh Liệt sống sau Phạm Tu bảy tám trăm năm lại không hề có một dòng lưu bút nào về người anh hùng kiệt xuất của đất nước, vị tiền bối lỗi lạc cùng quê hương.
- Một điều quan trọng nữa cần chú ý là nếu Phạm Tu là Đô hồ đại vương ở Thanh Liệt thì sao cả một vùng rộng lớn xung quanh nơi này nói riêng và cả miền Bắc Việt Nam nói chung, nơi được ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khởi nghĩa Lý Bí hầu như không nơi nào lập đền thờ. Cuốn Linh thần Việt Nam của giáo sư Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo, nhà xuất bản VHTT năm 2002 chỉ tìm được 3 địa phương có thờ Đô hồ đại vương. Tuy nhiên chưa xác định được Đô Hồ Đại vương có phải là Phạm Tu hay không!
- Vấn đề cuối cùng cần làm rõ là theo tài liệu của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt thì Phạm Tu là một lão tướng. Năm 542 cuộc khởi nghĩa Lý Bí nổi dậy, lúc đó ông đã 67 tuổi. Mặc dầu được mô tả là một đô vật thời trai trẻ nhưng với một người già cả, trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, không hề có hành trạng gì, liệu có đủ tài sức để đối đầu với bọn giặc Lương? Cũng theo tài liệu này, năm 543, vua Lâm ấp lẫn chiếm bờ cõi phía nam, tướng biên ải là Lý Phục Man không chặn được giặc, vua lại phải sai lão tướng Phạm Tu đem đại binh vào nam mới đánh tan được quân Chiêm tại Cửu đức. Sau cuộc trường chinh này, trở ra, vị lão tướng lại phải đương đầu với quân Lương của Trần Bá Tiên ở cửa sông Tô Lịch và hy sinh tại đây. Ba năm trời, một ông lão 70 tuổi vụt đứng dậy xung trận, đánh Bắc dẹp Nam bấy nhiêu công tích liệu có đủ cơ sở để tin cậy?
(Theo NLG)
1. Trước hết phải nêu rõ 7 nhận xét trên không phải của GS. Phan Huy Lê không hoàn toàn là các kết quả rút ra từ đoàn khảo sát của các nhà sử học từ năm 1982 mà trong đó có cả của NLG. Cách viết khi thống kê dễ làm người đọc lầm tưởng là nhận xét của GS. Phan. Ở nhận xét thứ 6 lại lấy thông tin từ sách in năm 2002, như vậy những năm 1980 không thể có. Tôi cũng đã đưa thông tin từ đầu năm 2009 vào thông tin về cụ Phạm Tu trên http://vi.wikipedia.org/ trong nội dung Nơi thờ cúng (xem tr. 127). Đọc ý kiến này của NLG, có câu rất giống câu của Tháp Bút đã viết: “tuy nhiên chưa xác định được những nơi đó có phải chính là nơi thờ Đô Hồ Đại vương Phạm Tu hay không.”
2. Ở nhận xét thứ 5 xin trả lời:
Hai nhân vật nổi tiếng sống cuối thời Trần đầu thời Lê (sống sau Phạm Tu trên 800 năm và trước thời nay trên dưới 600 năm) đó là Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Xét trong Bình Ngô đại cáo để thấy nhãn quan của bậc tiền bối về lịch sử nước nhà trước đó:
“Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”
Các vị đại danh Nho thời đó đã chưa vén hết bức màn ngàn năm Bắc thuộc, phần vì đô hộ dài dằng dặc và rồi chiến tranh liên miên. Các giá trị vật chất, phi vật chất hầu như bị tàn phá, hủy hoại trong đó có cả đền thờ miếu mạo thờ các vị anh hùng từ xa xưa. Ngay trong các di tích còn những đại tự, câu đối mà ngày nay chúng ta không thể xác định tác giả, niên đại.
Giai đoạn sau khi quân Lương rút về, đất nước lại nội chiến Triệu-Lý tạo nên đám mây bao phủ hào quang của nhà nước Vạn Xuân. Thế là các vị như Chu Văn An, Nguyễn Trãi có thể cũng cho triều Lý Nam Đế cũng nhạt nhòa như các cuộc khởi nghĩa khác giữa hai thời Triệu (Đà)-Đinh. Không quan tâm đúng mức đến việc thành lập nhà nước Vạn Xuân thì các nhân vật thời kỳ đó bị lãng quên cũng là điều dễ hiểu. Chưa kể các di sản văn hóa viết đã bị giặc Minh thu gom tiêu hủy hầu như toàn bộ. Chứng cứ là nhiều thông tin trước thời Lê Thái Tổ chúng ta phải căn cứ vào sử Trung Quốc nhưng phải chắt lọc mới có thể lấy được thông tin thực về lịch sử nước nhà. Ngày nay, có người đã chứng minh khởi nghĩa Mai Thúc Loan diễn ra trong 10 năm từ 713-722 chứ không thể diễn ra chỉ trong năm 722 sau việc “cống vải” là một sáng tác văn học sau này.
Di tích thờ Phạm Tu lâu đời nhất phải kể đến Miếu Vực, đây chính là gạch nối giữa đền thờ Phạm Tu thời Tiền-Hậu Lý Nam Đế (544-602) đến khi lập Đình Ngoại, gạch nối này ngày nay vẫn tồn tại. Có thể đền thờ Phạm Tu được lập thời Hậu Lý Nam Đế-Lý Phật Tử chứ không thể lập thời Lý Nam Đế-Lý Bí. Năm 545 nhà Lương ào ạt đánh sang, chiếm được thành cửa sông Tô Lịch, vùng Thanh Liệt lúc đó đã bị quân giặc khống chế hoàn toàn và do liên tiếp bị tấn công, vài năm sau Lý Bí mất ở Khuất Liêu. Không có đủ thời gian, điều kiện để Lý Bí cho lập đền thờ suy tôn lão tướng Phạm Tu. Việc làm đó chỉ diễn ra khi chiến tranh kết thúc, và phù hợp hơn đó là khi Lý Phật Tử nắm quyền, Phạm Tĩnh (con của Phạm Tu) lúc đó là Tướng quốc. Thời Lý Phật Tử trị vì thường gọi là Hậu Lý Nam Đế (571-602) mà nhiều tài liệu vẫn ghi là thời Lý Nam Đế (không có chữ Hậu ở đầu).
3. Ở nhận xét thứ 7: Dân gian có câu “Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già”. Nhưng với mỗi người thì các mốc trẻ-già cũng không thể ai cũng giống ai. Với lão tướng Phạm Tu 70 tuổi chưa hẳn là tuổi già đã đến, ông vốn là đô vật nổi tiếng, rèn luyện thường xuyên thì sức nhiều trai trẻ không địch được. Phải nêu lên tài chỉ huy của lão tướng Phạm Tu (cao tuổi) chứ không thể nói già không ra trận, không thể làm nên công trạng được. Nếu không sẽ trở thành phủ nhận công lao của nhân dân Vạn Xuân trong mấy năm dựng và giữ nước tạo nên trang sử hào hùng cho dân tộc. Phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng mới có được khởi nghĩa thắng lợi ở tất cả các địa phương. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một minh chứng gần và rõ nhất.
Bài viết này để phần nào trả lời các bài viết về Lý Phục Man có một số suy nghĩ của ông Nguyễn Thế Dũng-người viết blog NLG hiện ở đội 3 xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (điện thoại: 04. 3366 7224) với suy nghĩ tôn trọng người cao tuổi viết blog này (đã ngoài 70 tuổi) đồng thời kính trọng danh nhân Phạm Tu (476-545) đã sống, đánh giặc vì đất nước, vì người dân quê hương ông (Thăng Long-Hà Nội xưa) cách đây 15 thế kỷ. Ông đã mất ở tuổi 70 ngay ngoài chiến trận-chiến thành ở cửa sông Tô Lịch. Tháp Bút có độ tuổi bằng một nửa tuổi 70 với suy nghĩ còn nhiều điều chưa thấu đáo, kiến thức còn hạn hẹp cũng xin trả lời một số vấn đề chính đã nêu trên blog Người làng Giá:
Có thể quan điểm tách rời Phạm Tu-Lý Phục Man là hai nhân vật lịch sử riêng rẽ của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt là căn cứ vào một “khám phá” gây nhiều tranh cãi của nhà sử học Lê Văn Lan. Trong bài viết “Phát hiện sử học mới về Lão tướng quân Phạm Tu” cũng đăng trên báo Quân đội Nhân dân cuối tuần số ra ngày 06/12/1998. Mặc dầu nhà sử học họ Lê reo lên là “phát hiện sử học mới “ là “may thay gần đây đã có những công phu để bắt được sóng tín hiệu mới rất có giá trị về lão tướng quân Phạm Tu” nhưng oái ăm thay, “cũ người mới ta”, những gì được coi là mới ở đây đã được nhiều nhà sử học nghiên cứu, xem xét từ trước đó 16 năm rồi. Đó là cuộc khảo sát, nghiên cứu khá công phu của giáo sư Phan Huy Lê, chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam cùng với Đại tá Phó viện trưởng Viện sử học Quân đội Phan Huy Thiệp, Tiến sĩ sử học quân đội Nguyễn Anh cùng đông đảo các cộng sự tại Thanh Liệt, Thanh Trì từ giữa năm 1982 của thế kỷ trước. Kết quả cuộc khảo sát này đã được thông báo tại cuộc hội thảo về Phạm Tu-Lý Phục Man tại xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Tây, ngày 25/12/1982. Sau đó, giáo sư Phan Huy Lê cho đăng bài “Kẻ Giá một làng chiến đấu” trên tạp chí Dân tộc học số 46 tháng 2/1985 trong đó có nói đến cuộc khảo sát của giáo sư và đồng nghiệp tại Thanh Liệt năm 1982. Kết quả của những cuộc khảo sát này cho thấy:
- Bản Thần phả của Đình Ngoại xã Thanh Liệt có tiêu đề “Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu Thụy Đô hồ Đại vương Thượng đẳng thần sử tích” mới được chép lại tại đền Hùng (Phú Thọ) năm Bảo Đại thứ 9 (1934) mà “chép lại một cách sơ sài, không cẩn thận, có chữ còn để trống hay bỏ sót”. Đây có lẽ là sự tích một vị cư sĩ ở ẩn, một phật tử tu tại gia (cư sĩ), sau khi mất có sự linh ứng (cảm ứng) nên được phong tên thụy là Đô hồ, quan võ trông coi hồ nước của địa phương này đó là hồ Thanh đàm. Thật kỳ lạ, sau này có người lại giải thích chữ “đô” gốc Hán (trong sắc phong) thành chữ “đô” tiếng Việt trong “đô vật” rồi lại chuyển Phạm Tu thành Phạm Đô Tu, một tên riêng rất xa lạ với nhân vật lịch sử Phạm Tu, đã được Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư.
- Tấm bài vị ở đây cũng đã rõ “Bản thổ Tiền Lý Triều Long biên hầu, Đô hồ Đại vương Thần vị” Vị thành hoàng ở đây được phong tặng tước hầu, vị thần trông coi hồ nước-Về sắc phong của các triều đại ban tặng cho Đô hồ đại vương ở đây có 13 đạo, cổ nhất là đạo sắc của vua Lê Cảnh Hưng năm thứ nhất (1740) và gần nhất là của vua Khải Định, nhà Nguyễn (1916-1925). Nội dung chủ yếu của các đạo sắc phong này là nói về sự linh ứng của Thần, trong đó, đặc biệt có vài ba đạo sắc đời vua Minh Mệnh, năm thứ 5 (1824) ban tặng “Thủy thần phán quan”-ban cho Thần coi sóc mặt nước. Đạo sắc đời vua Tự Đức thứ 3 (1850) tặng mỹ tự “Trường trạm” nghĩa là giữ nước luôn trong trẻo, đời vua Duy Tân ban tặng mỹ tự “Linh Thuý” nghĩa là giữ mặt nước luôn trong trẻo, không pha tạp... Rõ ràng đó là những chữ đẹp phong cho một vị Thần trông giữ hồ nước.
- Tấm bia đá trong đình nói là tấm bia có từ đời Lương (?) Trung quốc (thế kỷ thứ 6) thực ra chỉ là một tấm bia hậu dựng năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái nhà Nguyễn, thờ cụ Phạm Tế, quê gốc Thanh Hóa, thiên cư ra Thanh Liệt mới được dăm sáu đời nay.
- Bức tranh thờ nói là chân dung Phạm Tu là một tấm hình vẽ trên một mảnh lụa đã cũ, một người dân ở Thanh Liệt là cụ Nhiêu Cỏn mới vẽ lại trên một tờ giấy tây. Đoàn khảo sát năm 1982 đã gặp người vẽ lại tấm hình và được xác nhận là đúng.
- Đình ngoại thờ Đô hồ đại vương là một ngôi đình có qui mô khá khiêm tốn, được tọa lạc ngay bờ hồ, ven làng, cũng mới được tân tạo thời Lê Hiển Tông (1740-1786) đến nay mới có vài trăm năm. Việc bài trí, trần thiết cũng còn sơ sài, đến cỗ kiệu rước cũng không có, phải dùng kiệu ở Định nội mỗi khi rước hội. Nếu quả thật danh tướng Phạm Tu quê ở Thanh Liệt thì nhân dân địa phương chẳng lẽ lại bỏ quên người con trung liệt của quê hương tới 12 thế kỷ sau mới lập ngôi đền thờ quá khiêm tốn đến vậy? Cả các vương triều phong kiến xưa hình như cũng lẵng quên vị khai cuốc công thần nhà Tiền Lý nên đến tận đời Lê Cảnh Hưng mới dựng đình thờ? Ai cũng biết, đại danh nho Chu Văn An (1292-1370) đời Trần, người làng Thanh Liệt sống sau Phạm Tu bảy tám trăm năm lại không hề có một dòng lưu bút nào về người anh hùng kiệt xuất của đất nước, vị tiền bối lỗi lạc cùng quê hương.
- Một điều quan trọng nữa cần chú ý là nếu Phạm Tu là Đô hồ đại vương ở Thanh Liệt thì sao cả một vùng rộng lớn xung quanh nơi này nói riêng và cả miền Bắc Việt Nam nói chung, nơi được ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khởi nghĩa Lý Bí hầu như không nơi nào lập đền thờ. Cuốn Linh thần Việt Nam của giáo sư Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo, nhà xuất bản VHTT năm 2002 chỉ tìm được 3 địa phương có thờ Đô hồ đại vương. Tuy nhiên chưa xác định được Đô Hồ Đại vương có phải là Phạm Tu hay không!
- Vấn đề cuối cùng cần làm rõ là theo tài liệu của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt thì Phạm Tu là một lão tướng. Năm 542 cuộc khởi nghĩa Lý Bí nổi dậy, lúc đó ông đã 67 tuổi. Mặc dầu được mô tả là một đô vật thời trai trẻ nhưng với một người già cả, trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, không hề có hành trạng gì, liệu có đủ tài sức để đối đầu với bọn giặc Lương? Cũng theo tài liệu này, năm 543, vua Lâm ấp lẫn chiếm bờ cõi phía nam, tướng biên ải là Lý Phục Man không chặn được giặc, vua lại phải sai lão tướng Phạm Tu đem đại binh vào nam mới đánh tan được quân Chiêm tại Cửu đức. Sau cuộc trường chinh này, trở ra, vị lão tướng lại phải đương đầu với quân Lương của Trần Bá Tiên ở cửa sông Tô Lịch và hy sinh tại đây. Ba năm trời, một ông lão 70 tuổi vụt đứng dậy xung trận, đánh Bắc dẹp Nam bấy nhiêu công tích liệu có đủ cơ sở để tin cậy?
(Theo NLG)
1. Trước hết phải nêu rõ 7 nhận xét trên không phải của GS. Phan Huy Lê không hoàn toàn là các kết quả rút ra từ đoàn khảo sát của các nhà sử học từ năm 1982 mà trong đó có cả của NLG. Cách viết khi thống kê dễ làm người đọc lầm tưởng là nhận xét của GS. Phan. Ở nhận xét thứ 6 lại lấy thông tin từ sách in năm 2002, như vậy những năm 1980 không thể có. Tôi cũng đã đưa thông tin từ đầu năm 2009 vào thông tin về cụ Phạm Tu trên http://vi.wikipedia.org/ trong nội dung Nơi thờ cúng (xem tr. 127). Đọc ý kiến này của NLG, có câu rất giống câu của Tháp Bút đã viết: “tuy nhiên chưa xác định được những nơi đó có phải chính là nơi thờ Đô Hồ Đại vương Phạm Tu hay không.”
2. Ở nhận xét thứ 5 xin trả lời:
Hai nhân vật nổi tiếng sống cuối thời Trần đầu thời Lê (sống sau Phạm Tu trên 800 năm và trước thời nay trên dưới 600 năm) đó là Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Xét trong Bình Ngô đại cáo để thấy nhãn quan của bậc tiền bối về lịch sử nước nhà trước đó:
“Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”
Các vị đại danh Nho thời đó đã chưa vén hết bức màn ngàn năm Bắc thuộc, phần vì đô hộ dài dằng dặc và rồi chiến tranh liên miên. Các giá trị vật chất, phi vật chất hầu như bị tàn phá, hủy hoại trong đó có cả đền thờ miếu mạo thờ các vị anh hùng từ xa xưa. Ngay trong các di tích còn những đại tự, câu đối mà ngày nay chúng ta không thể xác định tác giả, niên đại.
Giai đoạn sau khi quân Lương rút về, đất nước lại nội chiến Triệu-Lý tạo nên đám mây bao phủ hào quang của nhà nước Vạn Xuân. Thế là các vị như Chu Văn An, Nguyễn Trãi có thể cũng cho triều Lý Nam Đế cũng nhạt nhòa như các cuộc khởi nghĩa khác giữa hai thời Triệu (Đà)-Đinh. Không quan tâm đúng mức đến việc thành lập nhà nước Vạn Xuân thì các nhân vật thời kỳ đó bị lãng quên cũng là điều dễ hiểu. Chưa kể các di sản văn hóa viết đã bị giặc Minh thu gom tiêu hủy hầu như toàn bộ. Chứng cứ là nhiều thông tin trước thời Lê Thái Tổ chúng ta phải căn cứ vào sử Trung Quốc nhưng phải chắt lọc mới có thể lấy được thông tin thực về lịch sử nước nhà. Ngày nay, có người đã chứng minh khởi nghĩa Mai Thúc Loan diễn ra trong 10 năm từ 713-722 chứ không thể diễn ra chỉ trong năm 722 sau việc “cống vải” là một sáng tác văn học sau này.
Di tích thờ Phạm Tu lâu đời nhất phải kể đến Miếu Vực, đây chính là gạch nối giữa đền thờ Phạm Tu thời Tiền-Hậu Lý Nam Đế (544-602) đến khi lập Đình Ngoại, gạch nối này ngày nay vẫn tồn tại. Có thể đền thờ Phạm Tu được lập thời Hậu Lý Nam Đế-Lý Phật Tử chứ không thể lập thời Lý Nam Đế-Lý Bí. Năm 545 nhà Lương ào ạt đánh sang, chiếm được thành cửa sông Tô Lịch, vùng Thanh Liệt lúc đó đã bị quân giặc khống chế hoàn toàn và do liên tiếp bị tấn công, vài năm sau Lý Bí mất ở Khuất Liêu. Không có đủ thời gian, điều kiện để Lý Bí cho lập đền thờ suy tôn lão tướng Phạm Tu. Việc làm đó chỉ diễn ra khi chiến tranh kết thúc, và phù hợp hơn đó là khi Lý Phật Tử nắm quyền, Phạm Tĩnh (con của Phạm Tu) lúc đó là Tướng quốc. Thời Lý Phật Tử trị vì thường gọi là Hậu Lý Nam Đế (571-602) mà nhiều tài liệu vẫn ghi là thời Lý Nam Đế (không có chữ Hậu ở đầu).
3. Ở nhận xét thứ 7: Dân gian có câu “Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già”. Nhưng với mỗi người thì các mốc trẻ-già cũng không thể ai cũng giống ai. Với lão tướng Phạm Tu 70 tuổi chưa hẳn là tuổi già đã đến, ông vốn là đô vật nổi tiếng, rèn luyện thường xuyên thì sức nhiều trai trẻ không địch được. Phải nêu lên tài chỉ huy của lão tướng Phạm Tu (cao tuổi) chứ không thể nói già không ra trận, không thể làm nên công trạng được. Nếu không sẽ trở thành phủ nhận công lao của nhân dân Vạn Xuân trong mấy năm dựng và giữ nước tạo nên trang sử hào hùng cho dân tộc. Phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng mới có được khởi nghĩa thắng lợi ở tất cả các địa phương. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một minh chứng gần và rõ nhất.
GÓP Ý VỚI TÁC GIẢ TRƯƠNG SỸ HÙNG VÀ BAN BIÊN TẬP THÔNG BÁO HÁN NÔM 2009
Ngày 28. 8. 2010
Danh tướng Phạm Tu, người đứng đầu hàng võ của nhà nước Vạn Xuân là trụ cột triều đình Lý Nam Đế được thống nhất ghi trong sử sách. Một danh nhân không có ai có thể phủ nhận công lao của Tướng công đối với vùng đất Thủ đô dù đã trải qua 15 thế kỷ. Thế nhưng nghi vấn lịch sử lẽ ra phải xếp một bên để đặt tên đường phố mang tên ông. Cho dù có thể đặt tên của Tướng công thành tên một quận của Thủ đô (Chúng ta tin rằng Tướng công là một trong những vị thần thiêng nhất của Kinh đô, gắn với đất Long Đỗ) thế nhưng đến giữa năm 2010 này tên ông còn chưa được đặt cho một con đường nơi ông sinh ra, nơi ông ngã xuống và vẫn tiếp tục bảo vệ mảnh đất ấy theo chiều dài lịch sử của Đất nước. Việc chưa có tên đường Phạm Tu ở thủ đô là điều ngạc nhiên đối với những người biết về Phạm Tu trong đó có những nhà nghiên cứu của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long, hãy đặt tên cho các con đường đẹp ở Thủ đô mang tên các danh nhân như Triệu Túc, Tinh Thiều, Phạm Tu-tứ trụ triều đình Vạn Xuân. Không nên chờ (gần 35 năm nữa) đến những năm 2044-2045 để kỷ niệm 1500 năm của hàng loạt sự kiện: lập nước Vạn Xuân và dựng thành đầu tiên ở bờ nam sông Hồng, trên đất Long Đỗ cổ, ngày hy sinh của danh tướng Phạm Tu, đúng 100 năm ngày quốc khánh Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Nếu đúng Lý Phục Man là Phạm Tu thì chẳng lẽ đặt tên đường Phạm Tu rồi thì phải đổi tên đường Lý Phục Man? Còn nếu chứng minh là hai nhân vật riêng biệt thì lúc đó đặt thêm tên đường Lý Phục Man có muộn? Trong khi Tp. Hồ Chí Minh đã có tên đường Lý Phục Man từ rất lâu, còn gần đây các thành phố biển Nha Trang, Đà Nẵng đã đặt tên Phạm Tu cho một con phố nhỏ gần bờ biển.
Rõ ràng trong vấn đề này chính sử (văn kiện quốc gia) đang bị yếu thế trước thần phả (văn bản địa phương). Một số nhà nghiên cứu cho phép mình đánh giá tư liệu này tin cậy hơn tư liệu kia, nhưng khi hỏi tư liệu mà họ cho là tin cậy ấy bắt nguồn từ đâu thì họ cũng không trả lời được, hỏi xem có căn cứ nào cho việc đồng nhất không thì lại bảo là chính sử có ý viết như thế(?!). Chính sử đã viết thì ai còn phải bàn luận nhiều? Có phải vấn đề đồng nhất đã bị chi phối bởi tính chất địa phương, sự tranh chấp giữa những nhà nghiên cứu chưa vì lợi ích chung?
Tôi nhớ lại câu của TS. Nguyễn Nhã nói: "Như người ta đã nói: Cái gì của César thì phải trả lại cho César!" Do vậy nên cần bàn một số điểm chưa chính xác trong một bài nghiên cứu công phu của PGS. TS. Trương Sỹ Hùng mà ông cho là có cơ sở chứng minh Phạm Tu và Lý Phục Man chỉ là một người.
(a). Trích: "Theo chúng tôi, danh tướng Phạm Tu hay danh tướng, sau khi chết là danh thần Lý Phục Man chỉ là một người. Mỹ tự “Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu, thụy Đô Hồ đại vương, thượng đẳng thần” (感應居士范修謚都湖大王尚等神) trong bản thần tích Phạm Tu ở Thanh Liệt có thể có sự nhầm lẫn. Bằng chứng chắc chắn là sinh thời Lý Nam đế chưa thể có sắc phong thần cho Phạm Tu, bởi lẽ nếu tướng Phạm Tu chết cùng Lý Nam đế ở động Khuất Liêu hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua;" (xem tr. 31)
Xem đoạn này thấy sự lầm lẫn của tác giả: "hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua;" Phạm Tu hy sinh năm 545, ở cửa sông Tô; Lý Bí mất năm 548 ở Khuất Liêu: Làm sao tác giả cho là Phạm Tu chết sau vua Lý Nam Đế?
(b). Trích: "còn khi người hiển thánh thì dân gian tìm mọi cách phù hợp kiêng gọi húy hiệu nên gọi Phạm Tu là thánh Giá, Thiên Nam thánh, thần Lý Phục Man. Hơn tất cả là tính danh do chính vua Lý Nam đế ban tặng, tính thiêng liêng lại gấp bội lần tăng." (xem tr. 33)
Ở đây phải thấy rõ “dân gian tìm” là các tên gọi xuất xứ từ nhân dân, đó là các tên gọi: Đỗ Động tướng quân, Lý Thái úy, Lý Phò mã, Lý tướng quân, thánh Giá,... Còn Lý Phục Man được cho là do vua Lý Nam Đế ban tặng, Thiên Nam thánh do Lý Thần Tông ban tặng. Nên ở câu trước cần loại hai tên gọi do vua ban mà thay vào các tên gọi có xuất xứ từ nhân dân nhằm tránh hiểu lầm ở câu ngay sát sau đó ca tụng tên Lý Phục Man. Vì đã nảy sinh mâu thuẫn giữa 2 câu này bởi "Phục Man" được cho là tên gọi từ thời Lý Nam Đế, do chính Lý Nam Đế ban tặng. Ý nghĩa của việc "Phục Man" là sự an huy của mọi vương triều. Chúng ta thấy các vương triều đều chuộng từ “Phục Man” nên tập trung sắc phong cho thần.
Lý Phục Man - tên gọi do Lý Nam Đế ban tặng, khởi đầu, khi còn sống, đúng giai đoạn lịch sử và ý nghĩa nhất, như các tên gọi các đồng chí "Trường-Kỳ-Kháng-Chiến-Nhất-Định-Thắng-Lợi" mà Bác Hồ đã đặt.
(c). Trích: "Sau đoạn văn trên là trọn vẹn câu chuyện kể cả tình tiết và văn phong, thể hiện là Đại Việt sử ký toàn thư dẫn lại trọn vẹn sách Việt điện u linh như đã dẫn đoạn trên. Lúc này danh tướng Phạm Tu dường như chỉ còn dấu ấn trong trang sử thời Tiền Lý, còn giờ đây tên ông được gọi là thần thiêng Lý Phục Man hay thánh Giá bởi người đã “thác về trời” từ gần 1000 năm trước." (tr. 24)
Đoạn này có nhiều mốc thời gian nên dễ nhầm lẫn: “Lúc này”, “thời Tiền Lý”, “còn giờ đây”, “đã thác về trời” và “từ gần 1000 năm trước” rất dễ làm người đọc hiểu sai và không xác định khoảng thời gian nào là gần 1000 năm.
(d). Trích: "Rõ ràng là nhân dân đã truyền thuyết hóa lịch sử, tìm mọi cách đề cao vị thành hoàng làng mình, gán cho thần những điều linh dị, sao cho hợp với phong thổ, địa danh mà họ đã và đang cư trú. Đời sau, nhiều thế hệ sau vua theo các quan trình nghị ý kiến của dân mà phê duyệt. Sự sai lạc tình tiết, ghép nhặt các mảnh truyện ly kỳ không mấy ai quan tâm, chỉ có các nhà nghiên cứu, chép sử băn khoăn khi có dịp cần xem xét." (xem tr. 32)
Có lẽ đây là tình trạng chung nên các thần phả đều phải đứng trên giai đoạn lịch sử đương thời mà xét. Xem Sự tích về Lý Phục Man để thấy rõ vấn đề này.
(e). Trích: "Triều đình hội kiến, ai cũng tâu vua rằng: “ - Ngoài Đỗ Động tướng quân, không ai có thể thắng được bọn giặc này!”" (xem tr. 25)
Năm 543, khi đánh Lâm Ấp, nhà nước Vạn Xuân chưa thành lập. Không có triều đình nào trước Vạn Xuân cả!
(g). Trích: "Loại bỏ dấu ấn của thuyết phong thủy (các gò đất mang danh long, ly, quy, phượng) thì chứng tích một thành Vạn Xuân hay cung điện sơ khai mà lại tồn tại chưa được 5 năm ở đây là đúng, bởi thế việc thờ vọng Phạm Tu ở Thanh Liệt là chính đáng. Đó là lẽ thứ hai khiến người đời không thể sao nhãng. Lẽ thứ ba, thần phả Phạm Đô Hồ đại vương Thanh Liệt xã (神譜笵都湖大王清列社) “sao lục tại đền Hùng Vương tỉnh Phú Thọ” năm 1934 không có tên người soạn thảo và ngày tháng ấn định văn bản nên độ tin cậy không cao." (xem tr. 31)
Cần xem xét:
1. Không có chuyện kinh đô Vạn Xuân lại ở ngay Thanh Liệt, mà tồn tại 5 năm e quá dài! Khi khởi nghĩa thành công, có lẽ ban đầu bộ chỉ huy nghĩa quân đóng trong thành Long Biên , sau đó có thể mới tập trung về phía nam sông Hồng rồi lập điện Vạn Thọ,...
2. Tài liệu cổ, thần phả ở các di tích có bao nhiêu bản ghi có xuất xứ rõ ràng nếu truy tận gốc tài liệu để học giả xưa soạn. Xin hãy xem lại các tư liệu ở Quán Giá trước khi kết luận tư liệu nào tin cậy.
(h). Trích: "Bằng chứng chắc chắn là sinh thời Lý Nam đế chưa thể có sắc phong thần cho Phạm Tu, bởi lẽ nếu tướng Phạm Tu chết cùng Lý Nam đế ở động Khuất Liêu hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua; thế thì mỹ tự Cảm ứng của Đô Hồ đại vương không bao giờ có là “Nam đế sắc vi” (南帝敕為) được." (xem tr. 31)
Chúng ta có thể tán thành quan điểm Lý Nam Đế không sắc phong thần cho Phạm Tu vì xét bối cảnh kháng chiến chống quân Lương, Lý Nam Đế không có thời gian, điều kiện để suy tôn Phạm Tu.
Còn "Nam đế sắc vi", nước Việt có bao nhiêu vị là Nam đế chứ đâu chỉ có một Lý Bí là Nam đế! "Nam quốc sơn hà, Nam đế cư" thì có Nhà nước Việt là có Nam đế, đời nào cũng vậy.
Việc sắc phong thường diễn ra khi giặc dã đã yên. Phù hợp nhất là vị Nam đế - Lý Phật Tử làm, do Phạm Tĩnh con Phạm Tu là Tướng quốc triều này - triều Hậu Lý Nam Đế (có chữ Hậu ở đầu) mà nhiều tài liệu vẫn chép là triều Lý Nam Đế.
(i). Trích: "Khi Phạm Tu được vua ban quốc tính tức là họ Lý và danh hiệu Phục Man, lại được vua gả công chúa ông trở thành phò mã. Lẽ thường theo “mệnh vua phép nước”, bản thân đương sự là Phạm Tu và “phận con dân” thuộc mọi tầng lớp xã hội, mọi lứa tuổi, mọi thế hệ người đời không thể trái mệnh vua, nên ngay từ lúc sinh thời tục danh Phạm Tu dần lui vào quá khứ." (xem tr. 23)
Thật kỳ lạ tại sao ở làng Giá tên tuổi Phạm Tu "lui vào quá khứ" mà chỉ biết đến Lý Phục Man từ thời Lý Thái Tổ. Mà trong khi chính sử (không dưới 2 cuốn sử) lại ghi chép được chính tác giả Trương Sỹ Hùng coi là "không phải là bất cẩn", và có ghi trong Việt điện u linh tập (không phải trong truyện Lý Phục Man).
Theo cuốn Tuyển tập Thần tích của Thăng Long-Hà Nội của Nxb. Hà Nội (chủ biên PGS. TS. Nguyễn Tá Nhí, PGS. TS. Nguyễn Văn Thịnh) trong nội dung viết về thần tích xã Yên Sở có nội dung Tồn nghi đề cập đến việc đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Nội dung này cho hay làng Giá hiện chỉ kiêng húy chữ “Man” chứ không kiêng húy chữ “Tu”. Từ đây chúng ta nhận ra: Rõ ràng tên húy của thần Lý Phục Man cũng không phải là Man nên kiêng húy là vô lý, kiêng tên gọi này chứng tỏ cả ngàn năm ở làng Giá không biết tên thật của Lý Phục Man và tên gọi Phạm Tu quả là xa lạ đối với mảnh đất này!
Bộ chính sử lớn của nước ta, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã để lại những dòng ghi về vị tướng tài họ Phạm như sau:
“Mùa hạ, tháng 4 năm Quý Hợi (543) vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng Phạm Tu đánh tan giặc ở quận Cửu Đức” và:
“Mùa Xuân, tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, lấy Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ”.
Cuốn Việt Nam sử lược cũng viết:
“Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang quấy phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.”
Làm sao làng Giá lại bỏ quên đến mức sau 14 thế kỷ để đến nửa cuối thế kỷ XX mới cho Lý Phục Man là Phạm Tu, hay đúng hơn là đến khi có thông tin công bố trên sách báo là Phạm Tu quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì? Phải chăng đó là sự suy luận, "tưởng tượng về thời xa xưa" chứ không hề có cơ sở để nói là "dần lui vào quá khứ"?
Lịch sử Việt Nam hiếm có người được phong quốc tính (một dạng khen thưởng đặc biệt) mà tên tuổi bị mai một. Bởi lẽ chính việc được ban quốc tính đã là một sự ca tụng nên lai lịch về nhân vật ấy càng rõ ràng hơn rất nhiều người cũng được ghi trong sử sách.
Những nhà viết sử thời Lý Trần đã biết về Phạm Tu nên thần phả nào có ghi tên ông đều đã được viết một cách cẩn thận. Đừng vì chủ quan, với ý muốn phủ nhận tư liệu khác mà cho "độ tin cậy không cao", nghe như tiếng súng lục “bắn... vào Quá khứ”?
(k). Trích: "Hiện có đến hàng chục bản thần tích viết về Lý Phục Man, nhưng cũng chỉ có vài bản có chi tiết cho biết Phạm Tu là tục danh của Lý Phục Man, còn năm bài văn khắc Hán Nôm trên bia đá ở Yên Sở và phần lớn các thần tích chỉ nói đến đại từ chung là đại vương hoặc cặp từ vinh danh thần." (xem tr. 28)
Tính chính xác của việc nêu “chỉ có vài bản” thần tích “có chi tiết cho biết Phạm Tu là tục danh của Lý Phục Man” cần được chỉ rõ ở bản thần tích nào, đoạn viết ấy cụ thể ra sao? Đây chính là cơ sở có thể đồng nhất mà sao tác giả lại không đi sâu để làm sáng tỏ vấn đề?
Giải thích về điều có thể đồng nhất và không thể đồng nhất:
Bản thân việc "Sự tích đức thánh Giá" xây dựng để vị thần sông Đáy là công thần hàng đầu thời Lý Nam Đế điều đó khiến nhiều điều rất giống với vị khai quốc công thần có thật trong lịch sử Tả tướng Phạm Tu. Đây là những điều khiến nếu chỉ xem qua có thể đồng nhất một cách dễ dàng. Bản thân việc đặt tên sự tích cho thấy sự thiếu cơ sở bởi đúng thì cứ gọi "Danh tướng Phạm Tu" là vững nhất, "vững như bàn thạch".
Tuy nhiên những mâu thuẫn phát sinh trong chính tư liệu về Lý Phục Man chứng tỏ trải dài 1000 năm, theo thời gian tư liệu bổ sung vào dồi dào nhưng không thể thống nhất. Đặc biệt khi thời nay cứ phải lái theo cho đúng đó là Phạm Tu và bởi không có cái gốc của sự thật nên có nhiều giả thuyết đã không thống nhất. Tuy nhiên không ai đưa ra lý do chứng minh tư liệu nào là thêm vào sai, tư liệu nào là gốc-đúng. Vì thực sự không ai có đủ tin tưởng là tư liệu mình đưa ra là đúng hoàn toàn? Đi phủ nhận tư liệu ở Thanh Liệt có lẽ không phải khi lại sử dụng thông tin về Phạm Tu ở đây để bổ sung cho Lý Phục Man (như việc Lý Phục Man mất ở cửa sông Tô). Thế lý luận này như đánh trận lên núi “cheo leo” quá?
Từ sự mâu thuẫn cho thấy tư liệu về Lý Phục Man hiện nay đang có tình trạng đúng sai lẫn lộn như thế làm sao có thể đồng nhất được? Đặc biệt những người lấy lẫn lộn tư liệu Lý Phục Man trẻ tuổi ghép (cơ học) cho Lão tướng Phạm Tu là việc làm của những nhà nghiên cứu là không khoa học vì không đưa ra được lý giải cho những mâu thuẫn.
Danh tướng Phạm Tu, người đứng đầu hàng võ của nhà nước Vạn Xuân là trụ cột triều đình Lý Nam Đế được thống nhất ghi trong sử sách. Một danh nhân không có ai có thể phủ nhận công lao của Tướng công đối với vùng đất Thủ đô dù đã trải qua 15 thế kỷ. Thế nhưng nghi vấn lịch sử lẽ ra phải xếp một bên để đặt tên đường phố mang tên ông. Cho dù có thể đặt tên của Tướng công thành tên một quận của Thủ đô (Chúng ta tin rằng Tướng công là một trong những vị thần thiêng nhất của Kinh đô, gắn với đất Long Đỗ) thế nhưng đến giữa năm 2010 này tên ông còn chưa được đặt cho một con đường nơi ông sinh ra, nơi ông ngã xuống và vẫn tiếp tục bảo vệ mảnh đất ấy theo chiều dài lịch sử của Đất nước. Việc chưa có tên đường Phạm Tu ở thủ đô là điều ngạc nhiên đối với những người biết về Phạm Tu trong đó có những nhà nghiên cứu của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long, hãy đặt tên cho các con đường đẹp ở Thủ đô mang tên các danh nhân như Triệu Túc, Tinh Thiều, Phạm Tu-tứ trụ triều đình Vạn Xuân. Không nên chờ (gần 35 năm nữa) đến những năm 2044-2045 để kỷ niệm 1500 năm của hàng loạt sự kiện: lập nước Vạn Xuân và dựng thành đầu tiên ở bờ nam sông Hồng, trên đất Long Đỗ cổ, ngày hy sinh của danh tướng Phạm Tu, đúng 100 năm ngày quốc khánh Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Nếu đúng Lý Phục Man là Phạm Tu thì chẳng lẽ đặt tên đường Phạm Tu rồi thì phải đổi tên đường Lý Phục Man? Còn nếu chứng minh là hai nhân vật riêng biệt thì lúc đó đặt thêm tên đường Lý Phục Man có muộn? Trong khi Tp. Hồ Chí Minh đã có tên đường Lý Phục Man từ rất lâu, còn gần đây các thành phố biển Nha Trang, Đà Nẵng đã đặt tên Phạm Tu cho một con phố nhỏ gần bờ biển.
Rõ ràng trong vấn đề này chính sử (văn kiện quốc gia) đang bị yếu thế trước thần phả (văn bản địa phương). Một số nhà nghiên cứu cho phép mình đánh giá tư liệu này tin cậy hơn tư liệu kia, nhưng khi hỏi tư liệu mà họ cho là tin cậy ấy bắt nguồn từ đâu thì họ cũng không trả lời được, hỏi xem có căn cứ nào cho việc đồng nhất không thì lại bảo là chính sử có ý viết như thế(?!). Chính sử đã viết thì ai còn phải bàn luận nhiều? Có phải vấn đề đồng nhất đã bị chi phối bởi tính chất địa phương, sự tranh chấp giữa những nhà nghiên cứu chưa vì lợi ích chung?
Tôi nhớ lại câu của TS. Nguyễn Nhã nói: "Như người ta đã nói: Cái gì của César thì phải trả lại cho César!" Do vậy nên cần bàn một số điểm chưa chính xác trong một bài nghiên cứu công phu của PGS. TS. Trương Sỹ Hùng mà ông cho là có cơ sở chứng minh Phạm Tu và Lý Phục Man chỉ là một người.
(a). Trích: "Theo chúng tôi, danh tướng Phạm Tu hay danh tướng, sau khi chết là danh thần Lý Phục Man chỉ là một người. Mỹ tự “Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu, thụy Đô Hồ đại vương, thượng đẳng thần” (感應居士范修謚都湖大王尚等神) trong bản thần tích Phạm Tu ở Thanh Liệt có thể có sự nhầm lẫn. Bằng chứng chắc chắn là sinh thời Lý Nam đế chưa thể có sắc phong thần cho Phạm Tu, bởi lẽ nếu tướng Phạm Tu chết cùng Lý Nam đế ở động Khuất Liêu hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua;" (xem tr. 31)
Xem đoạn này thấy sự lầm lẫn của tác giả: "hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua;" Phạm Tu hy sinh năm 545, ở cửa sông Tô; Lý Bí mất năm 548 ở Khuất Liêu: Làm sao tác giả cho là Phạm Tu chết sau vua Lý Nam Đế?
(b). Trích: "còn khi người hiển thánh thì dân gian tìm mọi cách phù hợp kiêng gọi húy hiệu nên gọi Phạm Tu là thánh Giá, Thiên Nam thánh, thần Lý Phục Man. Hơn tất cả là tính danh do chính vua Lý Nam đế ban tặng, tính thiêng liêng lại gấp bội lần tăng." (xem tr. 33)
Ở đây phải thấy rõ “dân gian tìm” là các tên gọi xuất xứ từ nhân dân, đó là các tên gọi: Đỗ Động tướng quân, Lý Thái úy, Lý Phò mã, Lý tướng quân, thánh Giá,... Còn Lý Phục Man được cho là do vua Lý Nam Đế ban tặng, Thiên Nam thánh do Lý Thần Tông ban tặng. Nên ở câu trước cần loại hai tên gọi do vua ban mà thay vào các tên gọi có xuất xứ từ nhân dân nhằm tránh hiểu lầm ở câu ngay sát sau đó ca tụng tên Lý Phục Man. Vì đã nảy sinh mâu thuẫn giữa 2 câu này bởi "Phục Man" được cho là tên gọi từ thời Lý Nam Đế, do chính Lý Nam Đế ban tặng. Ý nghĩa của việc "Phục Man" là sự an huy của mọi vương triều. Chúng ta thấy các vương triều đều chuộng từ “Phục Man” nên tập trung sắc phong cho thần.
Lý Phục Man - tên gọi do Lý Nam Đế ban tặng, khởi đầu, khi còn sống, đúng giai đoạn lịch sử và ý nghĩa nhất, như các tên gọi các đồng chí "Trường-Kỳ-Kháng-Chiến-Nhất-Định-Thắng-Lợi" mà Bác Hồ đã đặt.
(c). Trích: "Sau đoạn văn trên là trọn vẹn câu chuyện kể cả tình tiết và văn phong, thể hiện là Đại Việt sử ký toàn thư dẫn lại trọn vẹn sách Việt điện u linh như đã dẫn đoạn trên. Lúc này danh tướng Phạm Tu dường như chỉ còn dấu ấn trong trang sử thời Tiền Lý, còn giờ đây tên ông được gọi là thần thiêng Lý Phục Man hay thánh Giá bởi người đã “thác về trời” từ gần 1000 năm trước." (tr. 24)
Đoạn này có nhiều mốc thời gian nên dễ nhầm lẫn: “Lúc này”, “thời Tiền Lý”, “còn giờ đây”, “đã thác về trời” và “từ gần 1000 năm trước” rất dễ làm người đọc hiểu sai và không xác định khoảng thời gian nào là gần 1000 năm.
(d). Trích: "Rõ ràng là nhân dân đã truyền thuyết hóa lịch sử, tìm mọi cách đề cao vị thành hoàng làng mình, gán cho thần những điều linh dị, sao cho hợp với phong thổ, địa danh mà họ đã và đang cư trú. Đời sau, nhiều thế hệ sau vua theo các quan trình nghị ý kiến của dân mà phê duyệt. Sự sai lạc tình tiết, ghép nhặt các mảnh truyện ly kỳ không mấy ai quan tâm, chỉ có các nhà nghiên cứu, chép sử băn khoăn khi có dịp cần xem xét." (xem tr. 32)
Có lẽ đây là tình trạng chung nên các thần phả đều phải đứng trên giai đoạn lịch sử đương thời mà xét. Xem Sự tích về Lý Phục Man để thấy rõ vấn đề này.
(e). Trích: "Triều đình hội kiến, ai cũng tâu vua rằng: “ - Ngoài Đỗ Động tướng quân, không ai có thể thắng được bọn giặc này!”" (xem tr. 25)
Năm 543, khi đánh Lâm Ấp, nhà nước Vạn Xuân chưa thành lập. Không có triều đình nào trước Vạn Xuân cả!
(g). Trích: "Loại bỏ dấu ấn của thuyết phong thủy (các gò đất mang danh long, ly, quy, phượng) thì chứng tích một thành Vạn Xuân hay cung điện sơ khai mà lại tồn tại chưa được 5 năm ở đây là đúng, bởi thế việc thờ vọng Phạm Tu ở Thanh Liệt là chính đáng. Đó là lẽ thứ hai khiến người đời không thể sao nhãng. Lẽ thứ ba, thần phả Phạm Đô Hồ đại vương Thanh Liệt xã (神譜笵都湖大王清列社) “sao lục tại đền Hùng Vương tỉnh Phú Thọ” năm 1934 không có tên người soạn thảo và ngày tháng ấn định văn bản nên độ tin cậy không cao." (xem tr. 31)
Cần xem xét:
1. Không có chuyện kinh đô Vạn Xuân lại ở ngay Thanh Liệt, mà tồn tại 5 năm e quá dài! Khi khởi nghĩa thành công, có lẽ ban đầu bộ chỉ huy nghĩa quân đóng trong thành Long Biên , sau đó có thể mới tập trung về phía nam sông Hồng rồi lập điện Vạn Thọ,...
2. Tài liệu cổ, thần phả ở các di tích có bao nhiêu bản ghi có xuất xứ rõ ràng nếu truy tận gốc tài liệu để học giả xưa soạn. Xin hãy xem lại các tư liệu ở Quán Giá trước khi kết luận tư liệu nào tin cậy.
(h). Trích: "Bằng chứng chắc chắn là sinh thời Lý Nam đế chưa thể có sắc phong thần cho Phạm Tu, bởi lẽ nếu tướng Phạm Tu chết cùng Lý Nam đế ở động Khuất Liêu hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua; thế thì mỹ tự Cảm ứng của Đô Hồ đại vương không bao giờ có là “Nam đế sắc vi” (南帝敕為) được." (xem tr. 31)
Chúng ta có thể tán thành quan điểm Lý Nam Đế không sắc phong thần cho Phạm Tu vì xét bối cảnh kháng chiến chống quân Lương, Lý Nam Đế không có thời gian, điều kiện để suy tôn Phạm Tu.
Còn "Nam đế sắc vi", nước Việt có bao nhiêu vị là Nam đế chứ đâu chỉ có một Lý Bí là Nam đế! "Nam quốc sơn hà, Nam đế cư" thì có Nhà nước Việt là có Nam đế, đời nào cũng vậy.
Việc sắc phong thường diễn ra khi giặc dã đã yên. Phù hợp nhất là vị Nam đế - Lý Phật Tử làm, do Phạm Tĩnh con Phạm Tu là Tướng quốc triều này - triều Hậu Lý Nam Đế (có chữ Hậu ở đầu) mà nhiều tài liệu vẫn chép là triều Lý Nam Đế.
(i). Trích: "Khi Phạm Tu được vua ban quốc tính tức là họ Lý và danh hiệu Phục Man, lại được vua gả công chúa ông trở thành phò mã. Lẽ thường theo “mệnh vua phép nước”, bản thân đương sự là Phạm Tu và “phận con dân” thuộc mọi tầng lớp xã hội, mọi lứa tuổi, mọi thế hệ người đời không thể trái mệnh vua, nên ngay từ lúc sinh thời tục danh Phạm Tu dần lui vào quá khứ." (xem tr. 23)
Thật kỳ lạ tại sao ở làng Giá tên tuổi Phạm Tu "lui vào quá khứ" mà chỉ biết đến Lý Phục Man từ thời Lý Thái Tổ. Mà trong khi chính sử (không dưới 2 cuốn sử) lại ghi chép được chính tác giả Trương Sỹ Hùng coi là "không phải là bất cẩn", và có ghi trong Việt điện u linh tập (không phải trong truyện Lý Phục Man).
Theo cuốn Tuyển tập Thần tích của Thăng Long-Hà Nội của Nxb. Hà Nội (chủ biên PGS. TS. Nguyễn Tá Nhí, PGS. TS. Nguyễn Văn Thịnh) trong nội dung viết về thần tích xã Yên Sở có nội dung Tồn nghi đề cập đến việc đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Nội dung này cho hay làng Giá hiện chỉ kiêng húy chữ “Man” chứ không kiêng húy chữ “Tu”. Từ đây chúng ta nhận ra: Rõ ràng tên húy của thần Lý Phục Man cũng không phải là Man nên kiêng húy là vô lý, kiêng tên gọi này chứng tỏ cả ngàn năm ở làng Giá không biết tên thật của Lý Phục Man và tên gọi Phạm Tu quả là xa lạ đối với mảnh đất này!
Bộ chính sử lớn của nước ta, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã để lại những dòng ghi về vị tướng tài họ Phạm như sau:
“Mùa hạ, tháng 4 năm Quý Hợi (543) vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng Phạm Tu đánh tan giặc ở quận Cửu Đức” và:
“Mùa Xuân, tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, lấy Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ”.
Cuốn Việt Nam sử lược cũng viết:
“Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang quấy phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.”
Làm sao làng Giá lại bỏ quên đến mức sau 14 thế kỷ để đến nửa cuối thế kỷ XX mới cho Lý Phục Man là Phạm Tu, hay đúng hơn là đến khi có thông tin công bố trên sách báo là Phạm Tu quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì? Phải chăng đó là sự suy luận, "tưởng tượng về thời xa xưa" chứ không hề có cơ sở để nói là "dần lui vào quá khứ"?
Lịch sử Việt Nam hiếm có người được phong quốc tính (một dạng khen thưởng đặc biệt) mà tên tuổi bị mai một. Bởi lẽ chính việc được ban quốc tính đã là một sự ca tụng nên lai lịch về nhân vật ấy càng rõ ràng hơn rất nhiều người cũng được ghi trong sử sách.
Những nhà viết sử thời Lý Trần đã biết về Phạm Tu nên thần phả nào có ghi tên ông đều đã được viết một cách cẩn thận. Đừng vì chủ quan, với ý muốn phủ nhận tư liệu khác mà cho "độ tin cậy không cao", nghe như tiếng súng lục “bắn... vào Quá khứ”?
(k). Trích: "Hiện có đến hàng chục bản thần tích viết về Lý Phục Man, nhưng cũng chỉ có vài bản có chi tiết cho biết Phạm Tu là tục danh của Lý Phục Man, còn năm bài văn khắc Hán Nôm trên bia đá ở Yên Sở và phần lớn các thần tích chỉ nói đến đại từ chung là đại vương hoặc cặp từ vinh danh thần." (xem tr. 28)
Tính chính xác của việc nêu “chỉ có vài bản” thần tích “có chi tiết cho biết Phạm Tu là tục danh của Lý Phục Man” cần được chỉ rõ ở bản thần tích nào, đoạn viết ấy cụ thể ra sao? Đây chính là cơ sở có thể đồng nhất mà sao tác giả lại không đi sâu để làm sáng tỏ vấn đề?
Giải thích về điều có thể đồng nhất và không thể đồng nhất:
Bản thân việc "Sự tích đức thánh Giá" xây dựng để vị thần sông Đáy là công thần hàng đầu thời Lý Nam Đế điều đó khiến nhiều điều rất giống với vị khai quốc công thần có thật trong lịch sử Tả tướng Phạm Tu. Đây là những điều khiến nếu chỉ xem qua có thể đồng nhất một cách dễ dàng. Bản thân việc đặt tên sự tích cho thấy sự thiếu cơ sở bởi đúng thì cứ gọi "Danh tướng Phạm Tu" là vững nhất, "vững như bàn thạch".
Tuy nhiên những mâu thuẫn phát sinh trong chính tư liệu về Lý Phục Man chứng tỏ trải dài 1000 năm, theo thời gian tư liệu bổ sung vào dồi dào nhưng không thể thống nhất. Đặc biệt khi thời nay cứ phải lái theo cho đúng đó là Phạm Tu và bởi không có cái gốc của sự thật nên có nhiều giả thuyết đã không thống nhất. Tuy nhiên không ai đưa ra lý do chứng minh tư liệu nào là thêm vào sai, tư liệu nào là gốc-đúng. Vì thực sự không ai có đủ tin tưởng là tư liệu mình đưa ra là đúng hoàn toàn? Đi phủ nhận tư liệu ở Thanh Liệt có lẽ không phải khi lại sử dụng thông tin về Phạm Tu ở đây để bổ sung cho Lý Phục Man (như việc Lý Phục Man mất ở cửa sông Tô). Thế lý luận này như đánh trận lên núi “cheo leo” quá?
Từ sự mâu thuẫn cho thấy tư liệu về Lý Phục Man hiện nay đang có tình trạng đúng sai lẫn lộn như thế làm sao có thể đồng nhất được? Đặc biệt những người lấy lẫn lộn tư liệu Lý Phục Man trẻ tuổi ghép (cơ học) cho Lão tướng Phạm Tu là việc làm của những nhà nghiên cứu là không khoa học vì không đưa ra được lý giải cho những mâu thuẫn.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)